寳 Bửu 保 Bảo

 1. Chữ 寳 và chữ 保 là hai chữ đồng âm, có cùng phiên thiết 博抱切 bác bão thiết, âm "bảo", không có âm nào khác. Đến đời Nguyễn, hai chữ này được phân biệt với nhau về âm đọc, chữ 寳 đọc thành "bửu", trong khi chữ 保 giữ nguyên cách đọc vốn có là "bảo". 

Nguyên do, hai chữ này đều xuất hiện trong Đế hệ thi đời Nguyễn, mà xét vai vế thì hàng chữ 寳 Bửu là ông của hàng chữ 保 Bảo, biệt âm ra như vậy là để tránh nhầm lẫn về ngôi thứ. Sự biệt âm này được quy định nghiêm ngặt và được hoàng gia tuân thủ. Điều tôi chưa rõ là, liệu có văn bản quy định việc biệt âm này không, hay đây là một luật bất thành văn trong tộc hệ?

Đế hệ thi: 

綿洪膺寶永     Miên hồng ưng BỬU vĩnh

保貴定隆長     BẢO quý định long trường

賢能堪繼述     Hiền năng kham kế thuật

世瑞國嘉昌     Thế thuỵ quốc gia xương

Cũng trong bài Đế hệ thi này còn hai chữ khác mà dân gian đọc trại đi là chữ 洪 Hồng đọc thành Hường, chữ 瑞 Thuỵ đọc thành Thoại, nhưng bản thân hoàng gia thì vẫn đọc chính âm. Ví dụ, hoàng đế Bảo Đại tên là Nguyễn Phước Vĩnh Thuỵ.[1]  

[1] Kể ra, chữ 福 vẫn nên đọc chính âm là "phúc", dân gian tránh âm "phúc" mà nói âm "phước". Khi nhà Nguyễn chấm dứt, lệnh kị huý dừng theo, những chữ này không cần phải đọc tránh đi nữa, chỉ là theo hình ảnh bia mộ vua Bảo Đại do con cháu lập, trên bia ghi là "Nguyễn Phước", nay viết theo như vậy.

2. Cơ sở ngữ âm để "bảo" có thể thành "bửu"

Trong tiếng Việt có diễn biến từ a > ươ, giờ vẫn thấy các cặp biến thể như 場 tràng// trường, 堂 đàng//đường hay những cặp Nôm hoá/ Hán Việt như 良 lang (thầy lang) ~ lương (lương y); 娘 nàng ~ nương. 

Vì thế:

- 洪, ngoài đọc với vần "ông" (東 đông vận) còn đọc với vần "ang" (江 giang vận), phần vần ương của "hường" chính là biến từ ang > ương. So sánh: hai chữ 洪紅 hồng đều có vần "ang" nên đều đọc thành "hường", nhưng chữ 鴻 hồng (chỉ có vần 東 đông) thì không đọc là hường. 

- 寳 bảo > bưởu. Do ảnh hưởng từ lối phát âm miền trong mà "bưởu" được chữ Quốc ngữ chính tả hoá  là "bửu", rồi áp dụng chung cho cả nước đọc theo. (So sánh: chữ 日 "nhựt" cũng đọc là "nhượt" theo lối đọc sớ.)

Đó là cơ sở ngữ âm của âm "bửu", nhưng bảo > bửu không phải là một diễn biến tự nhiên, mà bởi một mệnh lệnh nào đó. Nó khiến hai anh em cùng nhà là 寳保 tự dưng chia hai lối. 

3. Nhân tiện, từ 福 "phúc" biến thành "phước" cũng có liên quan đến quá trình a > ươ nói trên, nhưng phải đi vòng xa hơn một chút. Trong một bài viết cũ, tôi lí giải việc "phúc" đổi làm "phước" là do loại suy theo diễn biến từ "phụng" sang "phượng". Vần 江 giang vốn trước đi chung với vần 東 đông (nhiếp Thông), sau tách khỏi 東 đông mà nhập vào với nhiếp 宕 Đãng (vần a), quá trình tách nhập này gây ra một cục diện nhập nhằng giữa nhiếp 宕 Đãng và nhiếp 通 Thông, hệ quả là: 

a. Có những chữ  vần 江 giang vốn dĩ phải thành a lại vẫn đọc là o, ví dụ: song 窗 (so sánh: Hàn "chang" Trung "chuang"), học 學 (so sánh: Hàn "hak", Nhật "kaku") trọc 濁 (so sánh: Hàn "thak", Nhật "taku"). (Biến thể "trạc" của 濁 sau diễn biến thành "trược", nhưng âm "trược" không phổ biến bằng "trọc".) 

b. Có những chữ vần 陽 dương nhiếp 宕 đãng vốn dĩ không liên quan đến quá trình chuyển nhà của 江 giang, nhưng chịu liên quan mà bị cuốn sang 東 đông như 房防 phòng 訪仿 phỏng 放 phóng; 亡忘 vong 罔網 võng 妄望vọng... Hay chữ 弱 nhược có âm Nôm hoá là “nhọc", chữ 仰 ngưỡng có âm Nôm hoá là "ngỏng, ngóng", chữ 框 khuông có âm Nôm hoá là "khung", chữ 狂 cuồng có âm Nôm hoá là "khùng". 

c. Có những chữ vần 東 đông vốn dĩ không liên quan đến đến quá trình chuyển nhà của 江 giang nhưng chịu liên quan mà bị cuốn sang 陽 dương hợp khẩu (thành uông) như: 鐘 chung ~ chuông, 鍾(鍾愛)chung ~ chuộng, 壟 lũng ~ luống, 縱 (放縱) túng ~ tuồng.

Cũng trong diễn biến này, có những chữ vốn dĩ phải là "u" lại thành *a rồi dấn thêm một bước nữa thành ươ: 鳳奉 phụng > (*phạng) > phượng (phụng hoàng/ phượng hoàng, thờ phụng/ thờ phượng); 福 loại suy theo diễn biến trên mà từ phúc > phước. Trong Nam 鳳 nói theo âm "phụng", ngoài Bắc lại ưa âm "phượng". Còn 福 phúc thì ngược lại, Nam "phước" Bắc "phúc".

4. Do hai chữ 寳 bửu 保 bảo biệt âm, mà từ "bảo tàng" (museum) trong tiếng Việt xác quyết là viết bằng hai chữ Hán 保藏 (gìn giữ) chữ không phải 寳藏 (gìn giữ của báu). Lí do vì hai chữ "bảo tàng" luôn được đọc bằng "bảo tàng" ở cả Bắc và Nam, chứ chưa từng đọc thành "bửu tàng". Nên, bảo tàng lịch sử Việt Nam viết chữ Hán là 保藏歷史越南.


Đã đăng trên facebook ngày 2/1/2021. Đăng lại có chỉnh sửa. 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Quy tắc chính tả: Bỏ dấu ở đâu?

Phiên âm tên riêng nước ngoài ra tiếng Việt

Nhật kí chạy bộ (phần 2)