“Calligraphy” và “Thư pháp chữ Quốc ngữ”
“Calligraphy” và “Thư pháp chữ Quốc ngữ”
Tôi đoan chắc rằng, bất cứ ai có hiểu biết chút ít về thuật ngữ “calligraphy”, đều biết rằng “nghệ thuật viết chữ” không phải là đặc sản riêng của Trung Quốc và chữ Hán.
Theo http://en.wikipedia.org/wiki/Calligraphy, có tới 9 hệ calligraphy như sau:
1. Western calligraphy
2. Slavonic lettering
3. Eastern Asian calligraphy
4. Indian calligraphy
5. Nepalese calligraphy
6. Tibetan calligraphy
7. Persian calligraphy
8. Islamic calligraphy
9. Maya calligraphy
Dĩ nhiên, có thể hoài nghi về tính chuẩn mực, khoa học của những nội dung trên wikipedia, song chí ít, với sự liệt kê này, người đọc cũng dễ hình dung ra sự phong phú đa dạng của “nghệ thuật viết chữ” trên thế giới.
“Calligraphy”, ở Đông Á, được gọi là Thư pháp (Trung Quốc), Thư nghệ (Hàn) hay Thư đạo (Nhật).
Từ cái nhìn rộng rãi về “calligraphy”, tôi muốn nêu vài suy nghĩ cá nhân về “Thư pháp chữ Quốc ngữ”.
1. Tuyến tính vs. phi tuyến tính
Trước hết “calligraphy” (hay “thư pháp”) là thứ nghệ thuật lấy đối tượng thể hiện là những con chữ vẫn được dùng trong giao tiếp hàng ngày.
Việc chắp các yếu tố thể hiện ngôn từ thành một đơn vị phát ngôn lớn hơn một âm tiết, bao giờ cũng đi theo trục tuyến tính, (tuy có thể khác nhau về chiều, có thể là ngang hoặc dọc, từ trái qua phải, hay từ phải qua trái). Đây là điểm chung giữa các thể loại calligraphy.
Tôi xin lấy ví dụ:
Giả sử ta viết bốn âm tiết sau bằng chữ Hán, 以書會友, bốn âm tiết này có thể được trình bày theo trục ngang, từ trái qua phải, cũng có thể là từ phải qua trái, cũng có thể là trình bày theo trục dọc từ trên xuống dưới. Nhưng dẫu thế nào chúng cũng tụ họp theo một trục tuyến tính.
Ta lại viết chúng bằng chữ Quốc ngữ: Dĩ thư hội hữu, thì cũng vậy, bốn âm tiết nằm trên một trục tuyến tính.
Nhưng ở đơn vị là một âm tiết, thì các hệ chữ viết phân biệt làm hai loại, đối lập với nhau:
Loại tuyến tính: như chữ Latin (Quốc ngữ thuộc hệ này), Slavo, chữ hệ Hindu hay chữ hệ Arab. Sở dĩ nói như vậy, vì các yếu tố cấu thành cho con chữ một âm tiết cũng nằm trên trục tuyến tính. Chữ “thư” gồm ba yếu tố nối tiếp nhau trên trục tuyến tính là t-h-ư. Do tính chất tuyến tính này, mà các chữ có độ dài ngắn khác nhau, chiếm dụng không gian không giống nhau. “Dĩ” (2 yếu tố) thì chiếm dụng không gian ngắn hơn “thư” (3 yếu tố), “thư” lại chiếm dụng không gian ngắn hơn, chẳng hạn, “pháp” (4 yếu tố), “pháp” ngắn hơn “thánh” (5 yếu tố), “thánh” ngắn hơn “truyền” (6 yếu tố). Ở loại tuyến tính, khoảng không gian bị chiếm dụng không nhất thiết phải bằng nhau với những chữ khác nhau.
Loại hình khối (hay phi tuyến tính): như chữ Hán, chữ Hàn, chữ Nôm của Việt Nam. Đặc điểm của loại này là, theo quy định, chúng chiếm một khoảng không gian như nhau cho mọi đơn vị chữ có độ dài bằng một âm tiết. Dù chữ đó chỉ gồm một yếu tố cấu tạo nên, chẳng hạn 一(nhất), hay rất nhiều yếu tố cấu tạo nên, như麟(lân), thì không gian mà chúng chiếm dụng là như sau.
Đặc điểm này chia thư pháp trên thế giới thành hai đường lối khác hẳn nhau, phương pháp thể hiện cũng như dụng ý nghệ thuật đều khác biệt. Để dễ trình bày, ta hãy tạm mệnh danh hai đường lối này là thư pháp phương Tây và thư pháp phương Đông. Đây là cách nói cho tiện, không nhất thiết phù hợp với thực tế địa lý của các quốc gia có nền thư pháp trên.
2. Bút cứng vs. bút mềm (bút lông)
Bút cứng là chỉ các loại bút có ngòi viết cứng, bút chì, hay bút sắt. Bút mềm là chỉ bút có ngòi làm từ vật liệu mềm, như lông động vật.
Việc sử dụng loại công cụ nào (cứng hay mềm) để thể hiện chữ viết, thực ra không có sự liên quan tất yếu với đặc điểm chữ tuyến tính hay phi tuyến tính trình bày trên đây.
Nhưng nhìn trên thực tế, ta thấy thư pháp phân thành hai dòng rõ rệt. Dòng các con chữ tuyến tính, dùng bút cứng để thể hiện. Dòng các con chữ phi tuyến tính (hình khối), dùng bút mềm để chuyển tải.
Cần phải nhấn mạnh rằng, bút cứng cũng có khả năng tạo ra sự tương phản trong đường nét chữ, như sự đối lập giữa mảnh và thô, nhạt và đậm, lượn mềm và gấp cứng. Cách nghĩ cho rằng chỉ có bút lông mới tạo ra được những mảng đậm nhạt biến hoá, khinh trọng khác nhau là hơi phiến diện.
3. Đều đặn vs. biến hoá
Đây là sự khác biệt có thể quan sát được trong những tác phẩm dài, có nhiều chữ.
Dòng thư pháp phương Tây chú trọng đến sự đều đặt, nhịp nhàng, cân đối, hài hoà. Các nét chữ tuy cũng phân đậm nhạt, nhưng trên cùng một chữ cái, sự đậm nhạt ấy cũng được bố trí giống nhau. Dòng thư pháp phương Đông lại quan tâm đến sự biến hoá đa dạng. Nhất là trong thư pháp chữ Hán, khi hai chữ có cùng một bộ thủ xuất hiện gần nhau, thì hai bộ thủ giống nhau ấy, phải được xử lý kỹ thuật khác nhau. Khi hai chữ giống hệt nhau xuất hiện ngay cạnh nhau, chữ đứng sau có thể được thay bằng dấu nháy (biểu thị lặp lại). Nếu chúng xuất hiện lân cận, thì một chữ phải viết bằng cách khác, do vậy trong chữ Trung Quốc, không ít chữ có chữ dị thể. Ví dụ: chữ 棋kỳ, 棊kỳ là dị thể của nhau (bộ mộc xếp bên trái hay phía dưới đều được). Càng ở những thể chữ nghiêm cẩn như Khải, Lệ, Triện, thì sự xử lý càng cần tinh tế.
Nhìn một cách sơ lược, thư pháp phương Tây ưa sự đều đặn, mà thư pháp phương Đông trọng sự biến hoá.
4. Vài suy nghĩ về thư pháp chữ Quốc ngữ Việt Nam
Chữ Quốc ngữ hiện hành ở Việt Nam, là sản phẩm do những người Bồ Đào Nha tạo ra, và được người Pháp thúc đẩy triển khai tại Việt Nam, thay thế chữ Hán đã sử dụng ở đất này cả nghìn năm. Nhưng do tiện lợi, nó đã được người Việt tiếp nhận và sử dụng như văn tự chính thức.
Chữ Quốc ngữ, được tạo trên cơ sở những con chữ Latin (Roman). Nên xét về tính chất, nó thuộc loại hình chữ tuyến tính, đối lập với chữ Hán là loại hình phi tuyến tính (hình khối).
Thư pháp chữ Quốc ngữ, nếu đúng theo tính chất tự nhiên của nó, sẽ phát triển theo dòng thư pháp phương Tây. Và ở Việt Nam hiện nay, người ta cũng đang khởi xướng điều này. Các em học sinh khi bước vào lớp 1 phải trải qua một kỳ thi viết chữ. Các lớp luyện viết chữ đẹp mọc ra như nấm để đáp ứng nhu cầu cho con mình luyện chữ của phụ huynh. Một tổng kết mang tính giai đoạn là cuộc thi Chữ Việt đẹp do tướng Hữu Ước và tờ báo của ông phát động.
Nhưng ở Việt Nam, không ai gọi Chữ Việt đẹp của tướng Ước là “thư pháp chữ Quốc ngữ” cả. “Thư pháp chữ Quốc ngữ” là chỉ một loại khác kia.
“Thư pháp chữ Quốc ngữ”, là một thử nghiệm (tôi chỉ dám nói là thử nghiệm) pha trộn hai dòng thư pháp Đông và Tây. Tức là sử dụng công cụ và một số thủ pháp của thư pháp phương Đông vào việc thể hiện những con chữ tuyến tính. Nghĩa là bỏ bút sắt nhặt bút lông, vứt đều đặn noi biến hoá. Nhưng có một cái không sửa được, đó chính là tính tuyến tính của con chữ.
(Kể ra cũng có người thử biến nó thành phi tuyến tính, nhưng hình như lối đi này thất bại (?!), gần đây ít thấy có tác phẩm thư pháp Quốc ngữ viết theo lối ấy. Phải chăng vì lối ấy khiến chữ Quốc ngữ đâm khó đọc, vi phạm tiêu chí của thư pháp chữ Quốc ngữ là dễ đọc, dễ hiểu?!).
Kiểu thư pháp cocktail này, không phải là không thực hiện được. Người ta vẫn đang thực hiện, và tin tưởng vào tương lai rồi sẽ sán lạn của thư pháp chữ Quốc ngữ. Riêng tôi, thì tôi bi quan lắm. Có vài lý do như sau:
(1) Truyền thống cả ngàn năm của thư pháp phương Đông được xây nền trên con chữ phi tuyến tính (khối vuông), nên tư duy hình khối và không gian của nền thư pháp này có đặc thù riêng. Đặc thù riêng ấy, liệu có thích hợp với con chữ tuyến tính?
Ví dụ đơn giản như thế này, chữ khối vuông có tính độc lập cao, nên việc sắp xếp các con chữ khối vuông rất linh hoạt, có thể xếp theo trục dọc, cũng có thể xếp theo chiều ngang, thậm chí xếp theo chiều cong (như lượn theo chiều cong của quạt giấy). Những con chữ tuyến tính, bị hạn chế ngay bởi tính tuyến tính, chỉ có thể xếp theo một chiều, và là chiều ngang. Làm thế nào để dung hoà được giữa một bên tự do bố cục, và một bên bị hạn chế?
(2) Một trong những điều làm nên sự biến hoá của thư pháp phương Đông, là bởi số lượng nét bút cấu tạo nên chữ vuông rất phong phú. Số nét bút cơ bản nhất là 8 (theo Vĩnh tự bát pháp), gồm: điểm点, hoành横, thụ竖, phiết撇, nại捺, đề提, chiết折, câu钩. Tiếng Việt lần lượt là: chấm, ngang, sổ, phẩy, mác, hất, gập, móc. Đó là chưa kể, một nét cơ bản còn bao gồm nhiều dạng biến hóa cụ thể khác, chẳng hạn nét sổ, bao gồm sổ ngắn, sổ dài, lộ phong hay tàng phong vân vân.
Nhìn sang con chữ Latin của Quốc ngữ, số lượng nét bút cơ bản là ba: thẳng, cong và chấm. Ví dụ: A-3 thẳng, B-1 thẳng 2 cong, c- 1 cong hở, o- 1 cong kín, i- 1 thẳng 1 chấm. Thẳng và cong có thể kết hợp thành đường lượn, chẳng hạn a- 1 cong 1 lượn (trước cong sau thẳng). Dẫu tính rộng ra, cũng chỉ là 4 nét cơ bản. Vậy, làm thế nào để với nét cơ bản hạn chế như vậy (ít hơn một nửa), lại tạo ra được sự phong phú và biến hoá như trong thư pháp phương Đông?
Dẫu bi quan, tôi vẫn tin tưởng vào những bạn có sức trẻ, có tài trí, có tâm huyết với thư pháp chữ Quốc ngữ, có thể tìm ra được phương pháp hữu hiệu kết hợp giữa Đông và Tây. Biết đâu đấy, đến một ngày kia thế giới sẽ công nhận, cocktail thư pháp của Việt Nam cũng “ngon”.
Bài viết từ khoảng năm 2010, đăng lại trên fb ngày 5/3/2020
Nhận xét
Đăng nhận xét