Chữ Hán dị thể
"Chữ Hán dị thể" không phải là một khái niệm quen thuộc với người học tiếng Hán, dù nó hiện diện thường xuyên trong đời sống.
1. Chữ dị thể là gì?
Một chữ Hán là một thể thống nhất giữa ba mặt Hình (H), Âm (A) và Nghĩa (N), chúng hình thành mối liên hệ như thế này: [H : A : N].
Điều ai cũng dễ dàng chấp nhận là Nghĩa có thể có nhiều hơn một, ví dụ chữ “道” (đạo), có nghĩa là "con đường", "quy luật", "bản chất", "phương pháp" vân vân. Như thế quan hệ hình âm nghĩa trên có thể diễn đạt là [H : A : {N1, N2, Nn}]. N1, N2, Nn là hiện tượng "đa nghĩa".
Một thực tế khác cũng dễ được chấp nhận là một chữ có thể có nhiều hơn một âm đọc, ví dụ chữ “行” có các âm đọc “hành, hạnh, hàng, hạng”. Quan hệ hình âm nghĩa của chữ Hán trở thành [H : {A1, A2, An} : {N1, N2, Nn}]. A1, A2, An là hiện tượng "đa âm".
Nhưng hình chữ cũng không phải khi nào cũng chỉ có duy nhất một hình [*]. Ví dụ chữ “举” (âm "cử", nghĩa "nhấc, giơ") cũng viết 舉, hay 擧, hay 挙. Quan hệ hình âm nghĩa của chữ Hán trở thành [{H1, H2, Hn} : {A1, A2, An} : {N1, N2, Nn}]. Mối quan hệ giữa H1, H2 và Hn gọi là quan hệ dị thể. H2 là "chữ dị thể" của H1 và ngược lại.
[*] Ở đây không tính sự khác biệt tự hình do thay đổi giữa các kiểu chữ Triện, Lệ, Khải, Hành, Thảo. Lấy chữ Khải làm chuẩn, tự hình của một chữ cũng có nhiều biến thể khác nhau.
Nếu như hiện tượng "đa nghĩa" hay "đa âm" tồn tại do nhu cầu biểu đạt của ngôn ngữ, giúp ích cho sự phong phú của ngôn ngữ, thì hiện tượng "dị thể" của tự hình lại bị hạn chế. Lí do vì chữ Hán vốn dĩ đã phức tạp, khó học, một chữ lại có nhiều dị thể nữa thì học sao cho đủ, nên nhà nước phải tiến hành "quy phạm hoá tự hình", suy tôn chỉ một tự hình quy phạm mà thôi.
2. Câu chuyện nhẽ ra đơn giản, có sự quy phạm của nhà nước là "khoẻ" rồi.
Vấn đề phức tạp ở chỗ, không chỉ có một nhà nước.
Trở lại với ví dụ về chữ "cử", tất cả các tự hình liệt kê trên kia đều là chữ quy phạm, chỉ có điều nó được quy phạm bởi các nhà nước khác nhau. Cụ thể:
举 (Trung Quốc đại lục) = 舉 (Đài Loan) = 擧 (Hàn Quốc) = 挙 (Nhật Bản).
Một vài ví dụ khác:
奖 (Trung Quốc đại lục) = 獎 (Đài Loan) = 奬 (Hàn Quốc) = 奨 (Nhật Bản). (âm "tưởng", nghĩa "phần thưởng", "thưởng")
乡 (Trung Quốc đại lục) = 鄉 (Đài Loan) = 鄕 (Hàn Quốc) = 郷 (Nhật Bản). (âm "hương", nghĩa "làng xóm", "quê hương")
戏 (Trung Quốc đại lục) = 戲 (Đài Loan) = 戱 (Hàn Quốc) = 戯 (Nhật Bản). (âm "hí", nghĩa "đùa", "chơi", "diễn tuồng")
vân vân
Sự khác biệt giữa chúng phải tinh ý lắm mới nhận ra được. Ví dụ chữ "tưởng" của Đài Loan và Hàn Quốc nom giống nhau, nhưng thực ra hơn kém nhau một nét chấm. Chữ "hương" của Đài Loan và Nhật Bản cũng khác nhau một nét chấm.
Ở chiều lịch đại, một chữ ở triều đại này là chính thể, sang triều đại khác có thể bị quy thành dị thể.
Ví dụ thời Võ Chu quy định chữ Chiếu 曌 là chính thể, sau này Lý Đường khôi phục lại, lấy chữ Chiếu 照 làm Chính thể; chữ 曌 lại trở thành dị thể.
3. Một hậu quả của chữ dị thể là, nó gây cản trở việc tìm kiếm bằng máy. Nhập vào ô tìm kiếm chữ “真” (chân) thì sẽ không bao giờ trả kết quả là "眞" (chân), vì mỗi chữ này có mã Unicode khác nhau. Điều đáng mừng là hiệp hội Hán tự học quốc tế vẫn đang tích cực làm việc để tìm giải pháp. Hãy hi vọng ở tương lai.
4. Nếu quay ngược lại quá khứ thì một chữ Hán không chỉ có ba bốn dị thể đâu, ví dụ chữ "天" (thiên) có gần 30 dị thể khác nhau, tình hình phức tạp hơn hiện tại rất nhiều.
Đã đăng trên fb ngày 19/10/2020

Nhận xét
Đăng nhận xét