Hàng trong "hàng xóm" là?

1. Chữ "hàng" trong từ điển tiếng Việt có nhiều nét nghĩa, tôi chú ý đến nhóm nghĩa này:

Danh từ  

1. tập hợp người hoặc vật nối tiếp nhau thành một dãy dài, thường theo một khoảng cách đều đặn. 

giăng dây để cấy cho thẳng hàng; xe đậu thành hàng dài; hai hàng nước mắt

2. bậc, xếp theo địa vị, vị trí

chữ số hàng trăm; hàng quan văn

3. (Ít dùng) tập hợp người sinh sống trong cùng một đơn vị hành chính trong quan hệ đối với nhau

chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng (tng)

Nét nghĩa 3 ít dùng, đến lần tái bản gần đây, Từ điển tiếng Việt (hệ Hoàng Phê) đã bỏ nét nghĩa này đi. Bỏ đi là điều đáng tiếc. Vì khái niệm “tập hợp người sinh sống trong cùng một đơn vị hành chính” bây giờ vẫn còn hiện diện trong từ “hàng xóm”, là một từ thông dụng. Để tiện miêu tả, dưới đây tôi gọi là "hàng 3". 

2. Ngược lên Việt Nam từ điển của Khai trí tiến đức, thì thấy quãng những năm 30 của thế kỉ trước “hàng 3” còn được dùng nhiều để tạo từ. Từ điển lấy ví dụ các từ sau: “hàng giáp, hàng đội, hàng phố”. 

Ngoài ra còn có: “hàng tổng” (trong câu tục ngữ “chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng”), “hàng xã”, “hàng huyện”, “hàng tỉnh” (như trong truyện ngắn Gia đình người lính của tác giả Dương Duy Ngữ ):

“Còn điều thứ ba - điều này thật hiếm thấy trong hàng xã, hàng huyện, và ngay cả hàng tỉnh là gia đình cụ tứ đại đồng đường "Anh bộ đội Cụ Hồ".




3. Hai nghĩa đánh số 1 và 2 ở trên đây, (gọi là hàng 1 và hàng 2) có thể xác định được từ nguyên của chúng là “行” hàng. Hàng 3 tuy cũng nhấn mạnh đến một tập hợp người, nhưng không  phải xét theo địa vị (hàng 2) hoặc phân bố trong không gian thành dãy (hàng 1), mà nó nhấn mạnh đến một tập hợp người trong một đơn vị hành chính.

Tôi ngờ vực rằng, chữ “hàng” trong “hàng xóm” không chắc đã là từ chữ 行 hàng.

Giả thuyết: Yếu tố "đơn vị hành chính" khiến tôi nghi ngờ "hàng 3" là do chữ 巷 hạng (> hàng). Ban đầu là ghép đẳng lập kiểu “hạng thôn” (> hàng thôn), “hạng xóm” (> hàng xóm), nghĩa là “trong làng ngoài ngõ”, rồi chỉ “người trong làng ngoài ngõ”, có nghĩa bà con láng giềng.

Rồi chữ “hàng” mờ nghĩa đi, người ta quên mất nghĩa ban đầu của nó. “Hàng thôn” được hiểu là “người trong cùng thôn”, “hàng xóm” là “người trong cùng xóm”, rồi từ đó mở rộng thành “người trong cùng tổng” (hàng tổng), “người trong cùng huyện” (hàng huyện), “người trong cùng phố” (hàng phố), đỉnh cao là “người trong cùng nước” (hàng nước).

Giả thuyết này mỏng, nhưng có thể suy nghĩ thêm. 


Đã đăng trên fb ngày 2/7/2019. Đăng lại có sửa chữa. 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Quy tắc chính tả: Bỏ dấu ở đâu?

Phiên âm tên riêng nước ngoài ra tiếng Việt

Nhật kí chạy bộ (phần 2)