Hỏi đáp về chữ Hán

Nhân dịp sinh viên QH2020 (K54) nhập học, tôi đăng trên trang facebook của khóa mục Q&A - hỏi đáp về chữ Hán, tổng kết một vài câu hỏi của những người mới học tiếng Hán, thậm chí của một vài người chẳng phải mới học. Một vài trong số đó là những ngộ nhận ngây thơ.

Nay gom những câu hỏi đã đăng về đây. Mỗi đầu năm nhập học đều có ích.

Trật tự các câu hỏi là ngẫu nhiên, theo vấn đề gì chợt bật ra trong đầu người viết.

#1 Q: Chữ Hán là chữ tượng hình phải không ạ?

A: Nếu có người nói: "Người là con vượn", em thấy câu đó đúng hay sai? Hãy cho là Đác-uyn nói đúng đi, con người tiến hóa từ vượn, nhưng nếu ở thế kỉ 21 mà nói "người là con vượn" thì không đúng chút nào. Chữ Hán cũng thế. Ở thuở sơ sinh của "chữ Hán", tính tượng hình của nó rất mạnh, nhưng chữ Hán đã tiến hóa rồi, bây giờ không phải là chữ tượng hình đâu. Trên 70% chữ Hán em sẽ học tới đây là chữ ý-âm (tức là trong chữ có phần biểu ý và phần biểu âm). Lưu ý nhé, chữ "ý-âm" chứ không phải "kí âm" đâu. Biết vậy thôi nhé, đừng nói ra, nói ra thể nào người ta cũng nghe nhầm thành "kí âm", rồi lại mất công giải thích. Vậy nói thế nào để người khác không nghe nhầm, tạm nói là "chữ Hán là chữ biểu ý" là được rồi.

#2 Q: Trung Quốc có lịch sử từ Hạ, Thương, Chu, Tần rồi mới đến Hán, tại sao "chinese character" lại là "chữ Hán" mà không phải chữ Thương, chữ Chu?

A: Chinese character gọi là chữ Hán mà không phải chữ Thương chữ Chu, điều này liên quan đến một cuộc "đột biến" trong sự tiến hóa của văn tự. Cuộc đột biến này xảy ra vào đời Hán, lịch sử văn tự sang trang ở đây. Văn tự trước đời Hán gọi là "cổ văn tự", từ Hán về sau gọi là "kim văn tự". Chữ mà các em học là hậu duệ của kim văn tự, nên gọi là "chữ Hán" là hợp lẽ. Bây giờ nội hàm từ "chữ Hán" đã được mở rộng, bao gồm cả giai đoạn cổ văn tự.

#3 Q: Em muốn biết tên mình bằng chữ Hán như thế nào thì làm thế nào ạ?

A: Cách nhẹ nhàng nhất là hỏi các thầy cô giáo trên lớp. Muốn tự đặt tên cho bản thân (quyền lợi mà khi sinh ra không có ấy), thì dùng từ điển mà tra thôi. Có thể tra ở đây: https://hvdic.thivien.net/. Có nhiều chữ để chọn, đọc nghĩa của chúng, chữ nào nghĩa hay thì chọn. Ví dụ Tuấn có 19 chữ, Anh có 31 chữ, cứ từ từ mà chọn. Chọn được chữ nào thì dán lên google translate, lựa chọn dịch từ tiếng Trung sang tiếng Trung (giản thể), nhìn vào kết quả dịch sẽ biết tên mình viết bằng chữ Hán giản thể như thế nào (copy dán vào word để ngắm), nhấn vào biểu tượng cái loa bên dưới sẽ nghe được tên mình đọc thế nào.

#4 Q: Nhưng em tên là Vui (là Nết, là Ngoan, là Thơm...) thì chọn thế nào ạ?

A: Em có hai lựa chọn. Thứ nhất là đặt một cái tên hoàn toàn mới, như một nghệ sĩ đặt nghệ danh vậy thôi. Em được tự do lựa chọn, nhưng sự tự do sẽ đem lại cảm giác choáng ngợp, khiến em không biết phải làm sao. Đừng sợ, hãy hưởng thụ sự tự do, em có thể thử với tên của nữ chính ngôn tình mà em thích nhất. Ở nhà mẹ gọi là Na, đến khi đi học em là Uyển Nhi.

Thứ hai là em xin sự giúp đỡ của giáo viên, thường là giáo viên sẽ gợi ý em về lựa chọn thứ nhất. Tôi thì sẽ xem chữ Nôm viết như thế nào (mục "tra Nôm" trong từ điển trên) và chọn chữ Hán gần nhất với tên của em, ví dụ tên là Vui thì chọn chữ Bội 佩. Nguyễn Thị Vui thành Nguyễn Kì Bội 阮琪佩 chẳng hạn.

#5 Q: Em thấy quảng cáo sách Học chữ Hán qua chiết tự, học như vậy có ích không, em có nên mua không?

A: Tách làm hai câu hỏi nhé: 1. Có nên học chữ Hán qua chiết tự không? và 2. Có nên mua sách "Học chữ Hán qua chiết tự" không?

Với câu thứ nhất, có nên học chữ Hán qua chiết tự không, câu trả lời là "có". Chiết tự là tách chữ Hán thành các phần để dễ ghi nhớ hình chữ. Cách ghi nhớ này có từ rất lâu rồi, dân gian cũng lưu truyền nhiều câu vè chiết tự, như "chim chích mà đậu cành tre, thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm" (chiết tự của chữ 德 đức). Các thầy cô khi dạy cũng sẽ hướng dẫn đây là bộ 亻nhân, đây là bộ 口 khẩu, cũng là tách một phần trong chữ Hán ra để các em ghi nhớ. Thứ nữa là trong giao tiếp, đôi khi người khác cũng yêu cầu em "đánh vần" cách viết họ (hoặc tên) của mình, khi ấy chiết tự cũng thường được dùng. Ví dụ cung + trường = Trương, khẩu + thiên = Ngô.

Với câu hỏi thứ hai, có nên mua sách "Học chữ Hán qua chiết tự" không. Câu trả lời của tôi là "KHÔNG", nhất là khi em chưa thể phân biệt được sách nào tốt sách nào không. Những cuốn kiểu đó chứa nhiều sự giải thích gượng ép và sai lầm. Muốn biết kĩ hơn lí do tại sao có thể xem ở đây:

https://www.facebook.com/notes/nguyen-dai-co-viet/ph%E1%BA%A5n-tr%E1%BA%AFng-b%C3%BAt-%C4%91%E1%BB%8Fc%C3%A1i-l%C3%AD-c%E1%BB%A7a-ch%E1%BB%AF-h%C3%A1n/10162578347895085/

#6 Q: Chữ Hán viết đẹp là như "rồng bay phượng múa" phải không ạ?

A: Quả thực có một lối nghĩ rằng viết chữ Hán cứ ngoáy tít lên là "đẹp". Chúng tôi gọi kiểu viết ấy là ngoáy cám lợn, "thư pháp chăn nuôi". Không đẹp chút nào. Và hiểu về bốn chữ “rồng bay phượng múa” cũng quá thô sơ.

Mới tập viết thì cứ viết từng nét một thật quy củ, viết chậm rãi, và viết chữ to. Hãy nhớ lại hồi đầu lớp 1 học viết chữ abc như thế nào, thì dùng đúng tinh thần ấy. Đến khi viết thạo rồi thì chữ tự khắc chữ sẽ thu nhỏ lại cho vừa.

#7 Q: Viết chữ Hán là phải "ngang bằng sổ ngay" phải không ạ?

A: Nếu hiểu "ngang bằng sổ ngay" như ke thước thật thì giống chữ khắc ván gỗ quá, viết tay không phải thế. Thực tế viết tay thì nét ngang không khi nào "bằng", luôn hơi chếch lên một chút, nét sổ không phải khi nào cũng viết thẳng đứng. Ví dụ nét sổ đầu tiên của chứ "khẩu" là phải hơi nghiêng sang trái. Vì thế trước khi viết chữ phải học quan sát, nhìn kĩ rồi hẵng viết, viết xong thì so lại với chữ mẫu xem có gì khác biệt không.

Font chữ vi tính thì KaiTi (楷体) là gần với viết tay, đây cũng là kiểu chữ in trong phần bài khóa giáo trình Hán ngữ. SimSun (宋体) là kiểu chữ khắc ván, không dùng làm mẫu tập viết được. Muốn tập viết theo chữ in thì chọn font cho đúng. 

#8 Q: Chữ Hán học chữ nào biết chữ ấy, thế phải học bao nhiêu chữ ạ?


A: Một người có trình độ tốt nghiệp Đại học ở Trung Quốc, trung bình biết khoảng 5 200 chữ Hán. Bộ Giáo dục Trung Quốc quy định 3 500 chữ Hán thường dùng trong đó có 2 500 chữ cơ bản. Chúng ta có những mốc như thế này để đạt tới: 2500 - 3500 - 5200. Tích lũy vốn chữ từ 3500 đến 5200 phải dựa vào sức đọc sách của cá nhân. Vậy nhiêu thôi.

Thời phong kiến, các cụ cũng biên soạn những cuốn như "Tam thiên tự" (ba nghìn chữ), "Ngũ thiên tự" (năm nghìn chữ) để dạy học trò, cho thấy con số khoảng 5000 chữ là ổn định qua các đời.

Đã đăng trên fb ngày 12/10/2020

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Quy tắc chính tả: Bỏ dấu ở đâu?

Phiên âm tên riêng nước ngoài ra tiếng Việt

Nhật kí chạy bộ (phần 2)