"Huấn dân chính âm" và vấn đề sáng tạo chữ viết dân tộc

1. Năm 1443, vua Se-jong 世宗 của vương triều Triều Tiên tập hợp một số học giả đặt ra con chữ phù hợp để ghi lại tiếng Triều Tiên, sự thành bèn xuất bản một cuốn sách đặt tên là 《訓民正音》“Huấn dân chính âm”, nghĩa là âm chính xác để dạy cho dân.

Sau này, tên quyển sách “Huấn dân chính âm” cũng được dùng làm tên gọi cho hệ thống chữ cái Hàn Quốc. Để cho giản tiện, người ta gọi là “Han-geul” (chữ Hàn) hoặc ở Triều Tiên thì gọi là Choson-geul (chữ Triều Tiên), những tên gọi này ra đời vào thế kỉ 20.

Bảng chữ cái của Huấn dân chính âm (1443):
Phụ âm: ㄱ ㅋ ㆁ ㄷ ㅌ ㄴ ㅂ ㅍ ㅁ ㅈ ㅊ ㅅ ㆆ ㅎ ㅇ ㄹ ㅿ
Nguyên âm: ㆍ ㅡ ㅣ ㅗ ㅏ ㅜ ㅓ ㅛ ㅑ ㅠ ㅕ

2. Trong cuốn Huấn dân chính âm, nguyên lí tạo chữ không được giải thích, nhưng được trình bày kĩ càng trong một cuốn sách khác có tựa đề 《訓民正音解例本製字解》 (Huấn dân chính âm giải lệ bản: chế tự giải) nghĩa là “Bản giải thích về Huấn dân chính âm: giải thích nguyên tắc chế tự”, xuất bản năm 1446 (tìm thấy trong thập niên 1940). Trong sách có đoạn:

天地之道,一陰陽五行而已。坤復之間爲太極,而動靜之後爲陰陽。凡有生類在天地之間者,捨陰陽而何之。故人之聲音,皆有陰陽之理,顧人不察耳。今正音之作,初非智營而力索,但因其聲音而極其理而已。理旣不二,則何得不與天地鬼神同其用也。

正音二十八字,各象其形而制之。初聲凡十七字。牙音ㄱ,象舌根閉喉之形。舌音ㄴ,象舌附上齶之形。脣音ㅁ,象口形。齒音ㅅ,象齒形。喉音ㅇ,象喉形。ㅋ比ㄱ,聲出稍厲,故加劃。ㄴ而ㄷ,ㄷ而ㅌ,ㅁ而ㅂ,ㅂ而ㅍ,ㅅ而ㅈ,ㅈ而ㅊ,ㅇ而ㆆ,ㆆ而ㅎ。其因聲加劃之義皆同,而唯ㆁ爲異。半舌音ㄹ,半齒音ㅿ,亦象舌齒之形而異其體,無加劃之義焉。

Đại ý, con chữ được tạo ra dựa vào hình dáng của bộ máy phát âm (là nói về phần phụ âm) gồm lưỡi, răng, họng, từ các chữ cơ bản thêm nét để ra những chữ khác. Nha âm (âm gốc lưỡi) tượng hình gốc lưỡi chạm vào ngạc mềm, nên viết ㄱ. Thiệt âm (âm đầu lưỡi), giống như lưỡi cong lên chạm vào răng, nên viết ㄴ. Thần âm (âm môi) tượng hình khuôn miệng. Xỉ âm (âm răng) trông như hình răng, nên viết ㅅ. Hầu âm (âm họng) như hình cổ họng, nên viết ㅇ. Các chữ khác thêm nét vào mà thành. Nguyên tắc gia nét cũng giống nhau. Riêng ㆁ/ng/ là khác. Còn các âm ㄹ/l~r/ hay ㅿ/z/ đều do thiệt xỉ chi hình (hình lưỡi hay răng) mà biến đổi ra, không theo nguyên lí của việc thêm nét.

Nguyên tắc của nét gia thêm là thế nào? Nghĩa là gia nét trên đỉnh là âm tắc, ví dụ ㄴ→ ㄷ (n > t), ㅁ → ㅂ (m > p), gia nét ở giữa là âm bật hơi ㄷ→ㅌ( t > th) ㅅ→(ㅈ) → ㅊ (s > tsh). Nhưng các chữ ㄹ/l/,ㆁ/ng/, ㅿ /z/ lại không theo nguyên tắc trên.

Quan sát kĩ cách tạo chữ của /l/ cũng thấy thú vị, đây là chữ âm bên, khi phát âm đầu lưỡi chạm vào chân răng (như ㄴn) nhưng gốc lưỡi phải nhấc lên (như ㄱ k) bịt luồng hơi đi lên mũi, để hơi đi ra đằng miệng, nên chữ này được cấu tạo nửa ㄱ k nửa ㄴ n và có một nét ngang giữa nối chúng lại, nhưng nét ngang giữa này không biểu thị bật hơi.

Chữ ㆁ/ng/ so với ㅇ/zero/ là thêm một nét sổ ngắn trên đỉnh, nhưng không biểu thị âm tắc mà là âm mũi gốc lưỡi.

Chữ ㅿ /z/ so với ㅅthì nét ngang thêm vào nằm ở đáy, khác với các trường hợp kia.

Do vậy nói các chữ ㄹ/l/ㆁ/ng/ ㅿ /z/ không theo nguyên tắc thêm nét.
3. Nguyên lí tạo ra nguyên âm cũng rất rành mạch. Có 3 kí tự đầu tiên tượng trưng cho “trời” (chấm tròn) “đất” (nét ngang) và “người” (nét sổ). Người nối giữa trời và đất. Ba kí tự này kết hợp với nhau để tạo ra các kí tự khác.

ㆍ ㅡ ㅣ : Trời - đất - người. Giá trị ngữ âm của 3 âm này lần lượt là: /ʌ/, /ɯ/, /i/- theo tái lập của các học giả Hàn.

ㅗ ㅏ : chấm ở trên nét ngang hoặc ở bên phải nét sổ, là những âm có độ mở miệng lớn /o/ và /a/, gọi là các âm sáng.

ㅜ ㅓ : chấm ở dưới nét ngang hoặc ở bên trái nét sổ là những âm có độ mở miệng hẹp hơn /u/ và /ə/, gọi là các âm tối.

ㅛ ㅑ : các âm sáng thêm một nét chấm nữa để diễn tả i- hoá, /io/, /ia/

ㅠ ㅕ: các âm tối thêm một nét chấm nữa để diễn tả i-hoá, /iu/, /iə/.

4. Có người nói cho rằng có sự liên hệ giữa Han-geul và chữ Phags-pa của đế quốc Mông Cổ (The Korean language reform of 1446: the origin, background, and Early History of the Korean Alphabet, Gari Keith Ledyard. University of California, 1966, p. 367–368.)

So sánh chữ Phags-pa và Han-geul.


Dòng trên: Mối liên hệ giữa chữ cái Phags-pa và Han-geul. Mô phỏng tự hình.

Dòng dưới: Mô phỏng cách tạo chữ. Ba chữ được tạo ra là w, v, f. Trong chữ Phags-pa, được tạo ra bởi hai chữ cái cơ bản là h và v (hình tam giác). Còn trong Hangul là từ chữ p và thêm vào một vòng tròn bên dưới.

Có thể vua Sejong đã nhận được sự gợi ý và khuyến khích khi thấy văn bản bằng chữ Phags-pa của người Mông Cổ, đó là điều tự nhiên, bởi nếu không phải thế, có lẽ người Triều Tiên đã đi con đường của Việt Nam để làm chữ Nôm, hay chữ kana của Nhật Bản.


Dẫu sao, về cơ bản phải coi hệ thống chữ cái Huấn dân chính âm là sự sáng tạo riêng biệt của người Triều Tiên, vả lại nữa, họ sẽ phải giấu thật kĩ sự “học tập” Phags-pa, vì quan hệ ngoại giao với nhà Minh.

5. Trong các nước đồng văn, ý tưởng về việc tạo dựng chữ viết ghi tiếng dân tộc mình đều có bối cảnh thời đại, chứ không tự dưng nảy ra.

Từ thế kỉ thứ 5, người Nhật đã dùng chữ Hán để ghi lại tiếng dân tộc mình, sáng tạo ra Vạn diệp giả danh (Manyoigana), sau này đi xa hơn nữa là thành Bình giả danh (Hiragana) và Phiến giả danh (Katakana). Tất nhiên, trước khi người Nhật làm Vạn diệp giả danh thì người Hán đã dùng chữ Hán để ghi tên đất tên người của các dân tộc khác rồi. Nhưng tiền lệ đó không nhất thiết thúc đẩy người ta dùng chữ Hán để ghi tiếng nói dân tộc mình. Người Triều Tiên mãi không tạo ra một hệ thống chữ Nôm hoàn thiện, mà chỉ có một vài chữ lẻ tẻ (gọi là “quốc tự”). Cho dù có thể đoán là họ phải biết về Vạn diệp giả danh.

Đời Đường, có người Nhật đến Giao Châu làm tiết độ sứ. (Wiki: Năm 761 -767, Abe no Nakamaro (阿倍仲麻呂, tức là Triều Hành) người Nhật Bản, du học và làm quan cho nhà Đường, được cử làm người đứng đầu An Nam đô hộ phủ.) Không rõ vai trò của người này đối với sự hình thành chữ Nôm như thế nào. Phải chờ bên giới sử học đào thêm về nhân vật này.

Còn với người Triều Tiên, không hề vô lí khi nói Sejong đã nhận được những gợi ý quý báu từ văn tự Phags-pa, và âm thầm tạo ra kiệt tác để đời của mình.

Hiểu thêm về bối cảnh hình thành nên bộ chữ Huấn dân chính âm này đã giải đáp một thắc mắc từ rất lâu của tôi, tại sao cùng nằm trong vùng văn hoá chữ Hán, mà Han-geul có thể đi xa đến thế, trở thành văn tự ghi âm tố, cấu tạo nét viết cũng khác nét viết chữ Hán, trong khi chữ Nôm và chữ Giả danh vẫn thấy được gốc Hán của nó. Ra là nhận được những nguồn gợi ý khác nhau.

6. Cũng có điều đáng phàn nàn về chữ Han-geul, đó là độ tương phản giữa các chữ cái không cao, dễ lẫn nếu không nhìn thật kĩ, kiểu ㅇ với ㆁ/ng/, ㅇ với ㅿ/z/, ㆁ/ng/ với ㅁ /m/. Đọc các sách khắc in thời xưa, thợ khắc phân biệt chữ viết tay không rõ là rất dễ khắc nhầm mấy chữ cái ấy. Người biết thì đoán là khắc nhầm hay không, người không biết thì băn khoăn nát đầu, là một chữ có hai âm đọc hay là gì.

Ví dụ chữ 因 , Han-geul ghi là 인, trong tài liệu cũ có chỗ ghi là ᅀᅵᆫ, âm đầu ㅿ tương ứng với âm đầu 日 nhật mẫu, nghĩa là cách ghi này trùng hợp với chữ 因 (“nhin > nhân”) trong tiếng Việt, đều từ 影 ảnh mẫu chạy sang 日 nhật mẫu.

Rất tiếc trong tiếng Hàn, do biến đổi ㅿ > ㅇ/zero/, nên căn cứ vào ngữ âm hiện nay không thể xác định được là: khắc nhầm hay có cách đọc với nhật mẫu?

Quy về “khắc nhầm” là dễ nhất. Nhưng cũng có thể đang bỏ sót một cách đọc có thực và là một thông tin rất đáng quý. Cho đến giờ, ta vẫn chưa giải thích được tại sao trong tiếng Việt, 因姻 nhân (cả 一 nhất nữa) lại đọc với âm đầu “nh”. Nhưng nếu tìm ra được cách đọc cổ với nhật mẫu (có lưu tích trong văn bản Han-geul) thì sẽ giải thích được.

Đã đăng trên fb ngày 15/1/2020

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Quy tắc chính tả: Bỏ dấu ở đâu?

Phiên âm tên riêng nước ngoài ra tiếng Việt

Nhật kí chạy bộ (phần 2)