Một cách khác để phân loại thanh điệu tiếng Việt

Tiếng Việt được hiểu là tiếng Việt toàn dân, được phản ánh đầy đủ nhất trong chữ Quốc ngữ, không phải là tiếng Việt thực tiễn ở một thổ ngữ nào đó.

1. Tiếng Việt có bao nhiêu thanh điệu? Câu trả lời tuỳ thuộc vào cách phân tích ngôn ngữ. Là 8 thanh điệu, nêu tuân theo cách phân tích của truyền thống Trung Hoa. Là 6 thanh điệu, nếu theo cách phân tích của các giáo sĩ phương Tây. Hệ thống 6 thanh điệu vì gắn với chính tả nên định hình cho đến nay. (Giả sử chúng ta vẫn đang viết chữ Nôm thì hoàn toàn có thể xem xét các lối phân tích khác, và số lượng thanh điệu theo đó cũng có thể khác đi. Cụ thể có thể tham khảo cuốn Ngữ âm tiếng Việt của gs. Đoàn Thiện Thuật.)

2. Chấp nhận tiếng Việt có 6 thanh điệu, thì sáu thanh điệu này lần lượt đối lập với nhau theo những tiêu chí nào, cũng lại tuỳ thuộc vào phương pháp phân tích và mục đích của nhà nghiên cứu. Bộ tiêu chí và phép phân chia được học giới chấp nhận rộng rãi hiện nay được giới thiệu trong cuốn Ngữ âm tiếng Việt của gs. Đoàn. Tôi vẽ lại như sau:


Miêu tả về thanh điệu tiếng Việt trong sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài hiện nay đều dựa trên mô hình này.

3. Phải thừa nhận rằng cách phân loại thanh điệu tiếng Việt như trên có những ưu điểm nổi trội, nó không chỉ miêu tả được hệ thống tiếng Việt hiện đại mà còn kết nối rất tốt với quá khứ. Nó tôn trọng ranh giới Bằng - Trắc (một yếu tố rất quan trọng trong thi ca), các cặp ở cùng một nhánh đối ứng với hệ thống thanh điệu truyền thống Bình, Thượng Khứ/Nhập. Với những ưu điểm ấy thì cách phân loại này sẽ còn là tiêu chuẩn trong học thuật cho rất lâu về sau.

Nhưng thực tiễn giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài (mà cụ thể là học sinh TQ) thì tôi thấy cần một cách phân chia khác, lựa chọn các đặc trưng đối lập khác. Ví dụ, sv TQ học tiếng Việt gặp nhiều khó khăn trong việc phân biệt thanh huyền và thanh nặng. Vì sách dạy miêu tả thanh huyền là một thanh điệu đi xuống [21] và thanh nặng cũng là một thanh điệu đi xuống nhưng gấp gáp hơn [31]. Thay vì nói một cách mềm mại “tôi là người thợ lò”, thì sinh viên sẽ gằn giọng ở tất cả các chữ “là, người, thợ, lò” và bối rối thật sự với việc phân biệt thanh điệu của “thợ” và “lò”. Hoặc khi nghe, sinh viên cũng không nghe ra được thanh hỏi và thanh huyền, vì cả hai thanh đều thấp mà trong ngữ lưu thì thanh hỏi [313] biến thành [211] , tiệm cận với thanh huyền [11].

Vấn đề của sinh viên yêu cầu tôi phải suy nghĩ, tai người Việt “bắt” các đối lập nào để hỗ trợ phân biệt thanh điệu.Nói “hỗ trợ” là vì trong hoạt động đối thoại, não người luôn có phần dự đoán trước và khi âm thanh lọt vào tai phù hợp với tần số của cái dự đoán sẵn thì não sẽ nhận thông tin dự đoán sẵn. Việc dự đoán này dựa vào kinh nghiệm tích luỹ được.

Việc không phù hợp với thông tin dự đoán sẵn sẽ làm người nghe cảnh giác. Đó là lí do tại sao người ta hiểu được người khác đang “nói đểu”, hoặc đang phê bình bằng lời khen, kiểu “giỏi nhỉ!”. Nghe người nước ngoài nói tiếng Việt cũng vậy, có khi rất sõi, nhưng nghe vẫn cứ Tây Tây thế nào, thường là do sự khấp khiểng ở những chỗ rất nhỏ.



Dưới đây là hệ thống phân loại sử dụng các tiêu chí đối lập khác.

Tiêu chí đầu tiên tôi nhấn mạnh là “có hay không có yếu tố tắc thanh hầu”. Mặc dù tiếng Hán có thanh điệu, nhưng trong thanh điệu lại kèm theo động tác siết thanh hầu là điều xa lạ. Bộ tiêu chí cũ không đề cập đến yếu tố này, thành thử các miêu tả về thanh điệu trong sách giáo khoa dạy tiếng Việt chỉ tập trung vào các yếu tố “đi lên, đi xuống hay gấp khúc”. Nhưng nếu mất yếu tố tắc thanh hầu thì phát âm không ra đặc trưng thanh điệu tiếng Việt, cố thay bằng đặc trưng “đi xuống” là biết trước thất bại, tai người Việt nghe thấy kì kì. Hai tiêu chí tiếp theo là “cao, thấp” và “bằng phẳng, không bằng phẳng”. Huyền và Hỏi chia vào cùng một nhánh, đều là thanh điệu thấp, để phân biệt được chúng thì yếu tố bằng phẳng (có thể kéo dài) hay không bằng phẳng (không thể kéo dài, thanh điệu ngắn) trở thành yếu tố quyết định. Khi đó yếu lĩnh để phát âm thanh huyền sẽ là: thấp, bằng, kéo dài trong khi thanh hỏi sẽ là, thấp, gấp khúc, ngắn. Cùng với luyện tập thì sinh viên sẽ nghe ra được sự khác biệt của hai thanh điệu này.

Bộ tiêu chí và cách phân loại này, so vào với miêu tả của gs Đoàn thì không thể sánh được, nhưng nếu nhằm vào mục đích cụ thể thì dùng được.

4. Mấy lời thủ thỉ:

-Khuôn vàng thước ngọc là có. Nhưng, “có khi biến, có khi thường, có quyền nào phải một đường chấp kinh”. Vấn đề là nắm rõ bản chất.

-Nghiên cứu ngữ âm học ở ta, mới thấy có “từ miệng ra”, chứ chưa được phụng đọc nghiên cứu nào “từ tai vào”. Nếu muốn nghiên cứu theo hướng “từ tai vào” thì phải thế nào, bắt đầu từ đâu? Thiên hạ đã làm đến đâu rồi? Tuyền nhiên bất tri. 全然不知.

-Thanh điệu trong phương ngữ, phần lớn chỉ còn 5 hoặc 4 thanh. Có nơi thanh Ngã và thanh Hỏi nhập làm một, có nơi thanh Ngã và thanh Nặng nhập làm một. Việc chúng nhập làm một là do các đặc trưng đối lập âm vị bị triệt tiêu. Khi đặc trưng biến mất, chúng sẽ nhập với thanh điệu nào chia sẻ nhiều đặc trưng chung với chúng nhất. Suy luận là như thế. Vậy thì cách cục phân nhóm các thanh điệu là có nhiều kiểu bố trí khác nhau, chứ không phải là duy nhất một cách.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Quy tắc chính tả: Bỏ dấu ở đâu?

Phiên âm tên riêng nước ngoài ra tiếng Việt

Nhật kí chạy bộ (phần 2)