Nhân tình
Gẫm cười hai chữ “nhân tình” éo le. Éo le thật ý chứ. Câu chuyện nhỏ của chữ “nhân tình” mà thấy cả sự Việt hóa yếu tố vay mượn, và chuyện xếp lốt, chia lốt của nhau trong từ vựng.
1. Trong tiếng Hán, “情人” tình nhân và “人情” nhân tình là hai từ mang nghĩa khác nhau. Cả hai từ này đều được mượn sang tiếng Việt, nên ban đầu “tình nhân” và “nhân tình” không đồng nghĩa. “Nhân tình” được giải thích là tình giữa con người với nhau, tình người. Chẳng hạn: “Trước đèn xem chuyện Tây minh, gẫm cười hai chữ nhân tình éo le”. (Nguyễn Đình Chiểu, Lục Vân Tiên)
Nhân tình, với nghĩa là “tình người” như thế, nay đã thành từ cũ, nghĩa cũ. Ở tiếng Việt hiện đại, nó chỉ còn tồn tại trong những thành ngữ như “nhân tình thế thái”, còn thường thì người ta hiểu “nhân tình” cũng nghĩa là “tình nhân”.
2. Trong tiếng Việt, trật tự từ giữ vai trò quan trọng trong ngữ pháp, việc thay đổi trật tự từ có thể khiến thay đổi về nghĩa, hoặc về sắc thái tình cảm. Quy tắc này áp dụng cho cả cấp độ từ pháp, ví dụ không thể tùy tiện thay đổi trật tự hai ngữ tố trong từ: so sánh | *sánh so, cẩn thận | *thận cẩn... Nhưng ở cấp độ từ pháp, có một số trường hợp ngoại lệ, mà việc đảo trật tự các ngữ tố đôi khi không tạo ra sự khác biệt về ngữ nghĩa [*]: “bạn bè - bè bạn”, “hẹn hò - hò hẹn”, “con cháu - cháu con” v.v.
[*]Những cặp đảo vị trí này có sự khác biệt về nghĩa sắc thái hay không có thể tồn tại tranh luận.
3. “Nhân tình” và “tình nhân” vốn dĩ là hai từ khác nhau. Những từ này được vay mượn vào tiếng Việt, và Việt hóa ở các cấp độ khác nhau. Cấp độ thứ nhất là nó được cấp cho vỏ ngữ âm Hán Việt. Cấp độ thứ hai là các ngữ tố tạo từ được chuyển dịch bằng các yếu tố (tạm gọi là) thuần Việt, tùy theo ngữ tố nào có thể dịch được.
“Tình nhân” được dịch căn ke thành “người yêu”, “nhân” dịch làm “người”, “tình” dịch làm “yêu”, trật tự đổi về cú pháp thuận tiếng Việt, với trung tâm ngữ là “người” đứng trước.
“Nhân tình” được dịch căn ke thành “tình người”, “nhân” dịch làm “người”, chữ “tình” giữ nguyên, và trật tự từ đổi về cú pháp thuận tiếng Việt, với trung tâm ngữ “tình” đứng trước. Sở dĩ chữ “tình” không đổi làm “yêu”, vì “yêu” đồng thời còn là động từ, nên “yêu người” dễ gây nhầm lẫn.
“Nhân tình” và “tình nhân” được Việt hóa khác nhau, cho thấy người sử dụng nhận thức rõ ràng về sự khác biệt ngữ nghĩa giữa chúng.
4. Chuyện éo le xảy ra từ lúc tiếng Việt chả muốn bỏ đi từ nào, nó giữ cả “nhân tình” và “tình người”, cả “tình nhân” và “người yêu”.
Với cặp sau, nó cấp cho những nghĩa sắc thái mới, khiến chúng phân biệt với nhau. “Người yêu” là nói chung chung, trong khi “tình nhân” thì dường như là một quan hệ không chính đáng.
“Cậu có người yêu đấy à?” là một câu hỏi bình thường.
“Cậu có tình nhân đấy à?” câu hỏi này... hmm... mang lại một cảm giác thật sỗ sàng.
Với cặp đầu, từ “tình người” lấn lướt “nhân tình”, đẩy “nhân tình” thành từ cũ, chỉ còn trong các cách nói cũ, hoặc trong các cụm cố định như “nhân tình thế thái / thế thái nhân tình”. Do bơ vơ, từ “nhân tình” nhập vào cùng với “tình nhân”, vô tình trở thành một cặp từ có thể đảo vị trí. Các cặp từ có thể đảo, như bạn bè, con cháu thường là có cấu tạo đẳng lập, “tình nhân” - “nhân tình” lại là cặp có cấu trúc chính phụ (có lẽ là duy nhất) có thể đảo ngược lại như vậy. “Bạn bè” có thể nói thành “bạn với chả bè”, “con cháu” có thể nói thành “con với chả cháu”, nhưng “tình nhân/ nhân tình” khó có thể nói thành “tình với chả nhân”.
5. Như thế, “nhân tình” và “tình nhân” là một câu chuyện nhỏ nhưng thú vị về chuyện vay mượn, Việt hóa và cạnh tranh từ vựng ở tiếng Việt. “Nhân tình” đáng nhẽ bị đào thải theo quy luật, nhưng nó lại được “tình nhân” thu dung, nên nó mang luôn nghĩa của “tình nhân”, tức là xác thì còn mà hồn đã mất.
“Gẫm cười hai chữ nhân tình éo le”. Éo le thật ấy chứ.
18.5.2020
Đã đăng trên fb ngày 18/5/2020
Đăng lại có sửa chữa.
Nhận xét
Đăng nhận xét