Nheo mắt lại và dịch
1. Để bắt đầu, chúng ta hãy hình dung lại quy trình của dịch thuật. Quy trình của dịch thuật hầu hết là nằm trong bóng tối, nói chính xác hơn, mọi thứ diễn ra trong đầu óc của người dịch, không ai nhìn thấy được. Cái nổi lên trên và nhìn thấy được, chỉ là văn bản nguồn (nguyên bản) và văn bản đích (bản dịch). Vậy điều gì đã xảy ra trong bóng tối? Nói ngắn gọn nhất, thì nó gồm ba quá trình: giải mã, chuyển mã, và tái cấu trúc văn bản.
2. Thế nào là một bản dịch tốt?
2. Thế nào là một bản dịch tốt?
Theo tôi, một bản dịch tốt là một bản dịch thể hiện nhiều nhất có thể thông điệp của bản gốc, với cách diễn đạt phù hợp với ngôn ngữ đích. Tôi sẽ nhấn mạnh một lần nữa từ này, "thông điệp".
Thông điệp, tức là cái nội dung thông tin mà văn bản nguồn muốn truyền tải. Nó phải được mang nhiều nhất có thể sang bản dịch.
Nhiều nhất có thể thôi, bởi hiếm khi chuyển tải được trọn vẹn. Lý do là vì giữa các ngôn ngữ luôn luôn có độ chênh nhất định. Chẳng hạn, (a)"anh yêu em" và (b)"em yêu anh" là hai câu khác nhau trong tiếng Việt, nhưng nếu dịch qua tiếng TQ, thì cả hai câu này đều là: 我爱你. Sự khác biệt giữa (a) và (b) đã bị xóa nhòa trong văn bản đích. Bản dịch bị rơi rụng một số thứ của bản nguồn, điều này đôi khi là khó tránh khỏi.
3. Ta lại quay về với 3 quá trình cơ bản của dịch thuật: giải mã, chuyển mã và tái cấu trúc.
Giải mã là quá trình tiếp nhận thông điệp. Thông điệp của văn bản, nó giống như một "tảng băng trôi", nó gồm phần nổi, là những ý nghĩa của bề mặt câu chữ, và phần chìm, là những thứ nghĩa hàm ẩn, hàm ngôn, là ý tại ngôn ngoại, là ý nghĩa văn hóa, là phong cách vân vân. Truyền tải thông điệp một cách đầy đủ nhất có thể, thì điều kiện đầu tiên là người dịch phải nhìn thấu được phần nổi phần chìm của thông điệp.
Chuyển mã, là quá trình tìm kiếm các đơn vị thông điệp tương ứng trong ngôn ngữ đích. Nó là (những) từ vựng có ý nghĩa tương đương (nên có một vài sự chọn lựa khác nhau), là (những) cách diễn đạt tương đương (như phương tiện liên kết văn bản, hành vi ngôn ngữ, chức năng ngôn ngữ vân vân).
Tái cấu trúc, là quá trình tái dựng lại thông điệp trong ngôn ngữ đích. Để đảm bảo phù hợp thói quen của người bản ngữ, quá trình tái cấu trúc cho phép xếp đặt lại trật tự thông tin.
Phân tích thử một ví dụ như sau: 好,我去去就回来啊。
Giải mã:
好: liên kết văn bản, nhằm kết thúc hội thoại trước, chuyển chủ đề mới
我:đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất
去去:động từ lặp lại, biểu thị động tác diễn ra nhanh
就: trợ từ ngữ pháp, biểu thị hành động trước và hành động sau diễn ra liên tiếp
回来:động từ
啊: trợ từ ngữ khí, biểu thị sự thương lượng.
Chuyển mã:
好: Được rồi, OK. Ừ. Này,...
我: Anh (giả định. Xác định cụ thể theo ngữ cảnh)
去去:đi một chốc, đi một loáng, chạy ra đây tí tẹo...
就: ngay, ngay lập tức, liền
回来:về, quay lại, quay về, trở lại
啊: nhé, nhá, nha
Tái cấu trúc:
Xác định thể loại văn bản: Khẩu ngữ > (ví dụ một phương án)> "Này, anh đi một loáng rồi về ngay nhé."
Toàn bộ công đoạn bên trên diễn ra trong não người dịch. Thứ mọi người nhìn thấy chỉ là:
好,我去去就回来啊 > Này, anh đi một loáng rồi về ngay nhé.
4. Nheo mắt lại và dịch
Tại sao tôi lại nói "nheo mắt lại và dịch". Cái sai lầm dễ thấy của những người mới học ngoại ngữ và bắt đầu dịch thuật, là quá nệ vào văn bản nguồn. Nếu mở to mắt và quá ư chăm chú vào bản gốc, xét nét đến từng chữ, từng kết cấu câu trên văn bản, vô hình trung cách diễn đạt ở bản nguồn biến thành một cái gông đè nặng lên trí não người dịch, khiến cho câu dịch là một câu như bê nguyên xi từ văn bản nguồn sang, chỉ khác ngôn ngữ thể hiện. (Đặc biệt là trong dịch từ tiếng Hán sang tiếng Việt, nhiều khi là do bí từ, người dịch đã đem từ tiếng Hán phiên sang âm Hán Việt, và coi đó như là "đã dịch".) Nó là nguyên nhân của những câu dịch rất sượng.
Ở đây xin nêu một vài ví dụ, mà cá nhân tôi cho là rất có lỗi với tiếng Việt:
-"Mau nhìn kìa, kia không phải là XXX sao? Trời ạ... mau lên..." Kêu lên một tiếng kinh ngạc, các phóng viên chen chúc tiến lên, lập tức xông tới, giơ máy ảnh nhao nhao lên."
-"XX, thì ra anh ở chỗ này, làm hại em đi tìm mãi".
-"Trong lúc nhất thời, tình hình có vẻ hơi giằng co, các phóng viên đều như uống phải thuốc kích thích, dường như không thể rời đi."
Giờ ta hình dung một văn bản giống như một bức tường, những thứ mang thông tin như những viên gạch, và cách chúng được tổ chức kết nối với nhau, như những mạch vữa. Bằng cách nheo mắt lại để ngắm, mạch vữa nhỏ sẽ mờ đi, chỉ còn thấy những viên gạch lộn xộn. Nhặt lấy chúng và xây lại một bức tường mới.
Đây là cách tôi đã "nheo mắt lại và dịch":
Nguyên văn:
Thông điệp, tức là cái nội dung thông tin mà văn bản nguồn muốn truyền tải. Nó phải được mang nhiều nhất có thể sang bản dịch.
Nhiều nhất có thể thôi, bởi hiếm khi chuyển tải được trọn vẹn. Lý do là vì giữa các ngôn ngữ luôn luôn có độ chênh nhất định. Chẳng hạn, (a)"anh yêu em" và (b)"em yêu anh" là hai câu khác nhau trong tiếng Việt, nhưng nếu dịch qua tiếng TQ, thì cả hai câu này đều là: 我爱你. Sự khác biệt giữa (a) và (b) đã bị xóa nhòa trong văn bản đích. Bản dịch bị rơi rụng một số thứ của bản nguồn, điều này đôi khi là khó tránh khỏi.
3. Ta lại quay về với 3 quá trình cơ bản của dịch thuật: giải mã, chuyển mã và tái cấu trúc.
Giải mã là quá trình tiếp nhận thông điệp. Thông điệp của văn bản, nó giống như một "tảng băng trôi", nó gồm phần nổi, là những ý nghĩa của bề mặt câu chữ, và phần chìm, là những thứ nghĩa hàm ẩn, hàm ngôn, là ý tại ngôn ngoại, là ý nghĩa văn hóa, là phong cách vân vân. Truyền tải thông điệp một cách đầy đủ nhất có thể, thì điều kiện đầu tiên là người dịch phải nhìn thấu được phần nổi phần chìm của thông điệp.
Chuyển mã, là quá trình tìm kiếm các đơn vị thông điệp tương ứng trong ngôn ngữ đích. Nó là (những) từ vựng có ý nghĩa tương đương (nên có một vài sự chọn lựa khác nhau), là (những) cách diễn đạt tương đương (như phương tiện liên kết văn bản, hành vi ngôn ngữ, chức năng ngôn ngữ vân vân).
Tái cấu trúc, là quá trình tái dựng lại thông điệp trong ngôn ngữ đích. Để đảm bảo phù hợp thói quen của người bản ngữ, quá trình tái cấu trúc cho phép xếp đặt lại trật tự thông tin.
Phân tích thử một ví dụ như sau: 好,我去去就回来啊。
Giải mã:
好: liên kết văn bản, nhằm kết thúc hội thoại trước, chuyển chủ đề mới
我:đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất
去去:động từ lặp lại, biểu thị động tác diễn ra nhanh
就: trợ từ ngữ pháp, biểu thị hành động trước và hành động sau diễn ra liên tiếp
回来:động từ
啊: trợ từ ngữ khí, biểu thị sự thương lượng.
Chuyển mã:
好: Được rồi, OK. Ừ. Này,...
我: Anh (giả định. Xác định cụ thể theo ngữ cảnh)
去去:đi một chốc, đi một loáng, chạy ra đây tí tẹo...
就: ngay, ngay lập tức, liền
回来:về, quay lại, quay về, trở lại
啊: nhé, nhá, nha
Tái cấu trúc:
Xác định thể loại văn bản: Khẩu ngữ > (ví dụ một phương án)> "Này, anh đi một loáng rồi về ngay nhé."
Toàn bộ công đoạn bên trên diễn ra trong não người dịch. Thứ mọi người nhìn thấy chỉ là:
好,我去去就回来啊 > Này, anh đi một loáng rồi về ngay nhé.
4. Nheo mắt lại và dịch
Tại sao tôi lại nói "nheo mắt lại và dịch". Cái sai lầm dễ thấy của những người mới học ngoại ngữ và bắt đầu dịch thuật, là quá nệ vào văn bản nguồn. Nếu mở to mắt và quá ư chăm chú vào bản gốc, xét nét đến từng chữ, từng kết cấu câu trên văn bản, vô hình trung cách diễn đạt ở bản nguồn biến thành một cái gông đè nặng lên trí não người dịch, khiến cho câu dịch là một câu như bê nguyên xi từ văn bản nguồn sang, chỉ khác ngôn ngữ thể hiện. (Đặc biệt là trong dịch từ tiếng Hán sang tiếng Việt, nhiều khi là do bí từ, người dịch đã đem từ tiếng Hán phiên sang âm Hán Việt, và coi đó như là "đã dịch".) Nó là nguyên nhân của những câu dịch rất sượng.
Ở đây xin nêu một vài ví dụ, mà cá nhân tôi cho là rất có lỗi với tiếng Việt:
-"Mau nhìn kìa, kia không phải là XXX sao? Trời ạ... mau lên..." Kêu lên một tiếng kinh ngạc, các phóng viên chen chúc tiến lên, lập tức xông tới, giơ máy ảnh nhao nhao lên."
-"XX, thì ra anh ở chỗ này, làm hại em đi tìm mãi".
-"Trong lúc nhất thời, tình hình có vẻ hơi giằng co, các phóng viên đều như uống phải thuốc kích thích, dường như không thể rời đi."
Giờ ta hình dung một văn bản giống như một bức tường, những thứ mang thông tin như những viên gạch, và cách chúng được tổ chức kết nối với nhau, như những mạch vữa. Bằng cách nheo mắt lại để ngắm, mạch vữa nhỏ sẽ mờ đi, chỉ còn thấy những viên gạch lộn xộn. Nhặt lấy chúng và xây lại một bức tường mới.
Đây là cách tôi đã "nheo mắt lại và dịch":
Nguyên văn:
贵校2014年毕业生XXX代表我校参加12月15日举行的大连市第十六届高校外国留学生汉语演讲比赛,获得二等奖,表现出高超的汉语水平,特致电表示热烈祝贺!
Đặc điểm ngữ pháp và diễn đạt của tiếng Hán cho phép nó dồn nén khá nhiều thông tin trong một câu.
Đặc điểm ngữ pháp và diễn đạt của tiếng Hán cho phép nó dồn nén khá nhiều thông tin trong một câu.
A, Về XXX có các thông tin sau: (1) là sinh viên của quý trường, tốt nghiệp năm 2014, (2) đại diện cho trường tôi tham gia Cuộc thi hùng biện tiếng Hán, (3) đạt giải Nhì, (4) thể hiện trình độ tiếng Hán rất xuất sắc.
B, Về Cuộc thi hùng biện tiếng Hán (1) dành cho du học sinh (2) của các trường Đại học (3) lần thứ 16 (4) thành phố Đại Liên (5) tổ chức ngày 15/12.
C, Chúng tôi gửi điện chúc mừng
Bằng ngần ấy thông tin, thì phải sắp xếp thế nào mới phù hợp với thói quen ngôn ngữ của người Việt? Nó đòi hỏi ta phải "xây lại bức tường" một cách khéo léo. Và đây là cách tôi tái cấu trúc thông điệp:
Trước hết, có thể thấy thông điệp cốt lõi ở đây là, [vì] XXX thi đoạt giải nhì, [nên] chúng tôi gửi điện chúc mừng.
Tôi đã xử lý theo hướng, tách làm hai câu, câu đầu nói nguyên nhân, (XXX đã thi đoạt giải nhì), câu thứ hai nói kết quả (chúng tôi gửi điện chúc mừng). Các thông tin khác được chia đều ra hai câu để không bị rối. Tôi đã đưa XXX "là sinh viên vừa tốt nghiệp 2014 của quý trường", và "trình độ tiếng Hán rất xuất sắc" xuống câu dưới. Trong các thành phần định ngữ của cuộc thi hùng biện tiếng Hán, thì thời gian tổ chức được tách riêng ra, đặt lên làm trạng ngữ cho cả câu, tránh việc định ngữ quá dài.
Và kết quả là:
Ngày 15 tháng 12 vừa qua, sinh viên XXX đã đại diện cho trường chúng tôi tham dự Cuộc thi hùng biện tiếng Hán dành cho du học sinh các trường Đại học trong thành phố Đại Liên lần thứ 16, và đã vinh dự giành giải Nhì. XXX là sinh viên tốt nghiệp năm 2014 của quý trường, em đã thể hiện trình độ tiếng Hán vô cùng xuất sắc, chúng tôi xin gửi tới quý trường lời chúc mừng nhiệt liệt.
5. Nói đi cũng phải nói lại. Việc bê nguyên xi cách diễn đạt từ tiếng nước ngoài vào tiếng Việt thực ra cũng có tác dụng của nó. Nó làm giàu đẹp thêm cho tiếng Việt. Nhưng việc tiếp nhận cách diễn đạt mới chỉ xảy ra với một điều kiện: cách diễn đạt mới ấy phải gọn ghẽ, chính xác, và tốt hơn cái mà tiếng Việt đang có. Bằng không thì tiếng Việt sẽ tự động đào thải nó. Xuân Diệu từng diễn tả "Hơn một loài hoa đã rụng cành", "hơn một" là cách nói kiểu Tây, tiếng Việt không nói thế. Lớn hơn một thì là "nhiều", nó gọn ghẽ hơn, vì thế cho đến giờ, "hơn một + N" vẫn đứng bên ngoài cửa tiếng Việt. Nó trụ lại được trong câu thơ trên, vì vận luật cần hai chữ ở vị trí đó, mà "nhiều" thì không thể đáp ứng được.
Hà Nội, 27.12.2014
B, Về Cuộc thi hùng biện tiếng Hán (1) dành cho du học sinh (2) của các trường Đại học (3) lần thứ 16 (4) thành phố Đại Liên (5) tổ chức ngày 15/12.
C, Chúng tôi gửi điện chúc mừng
Bằng ngần ấy thông tin, thì phải sắp xếp thế nào mới phù hợp với thói quen ngôn ngữ của người Việt? Nó đòi hỏi ta phải "xây lại bức tường" một cách khéo léo. Và đây là cách tôi tái cấu trúc thông điệp:
Trước hết, có thể thấy thông điệp cốt lõi ở đây là, [vì] XXX thi đoạt giải nhì, [nên] chúng tôi gửi điện chúc mừng.
Tôi đã xử lý theo hướng, tách làm hai câu, câu đầu nói nguyên nhân, (XXX đã thi đoạt giải nhì), câu thứ hai nói kết quả (chúng tôi gửi điện chúc mừng). Các thông tin khác được chia đều ra hai câu để không bị rối. Tôi đã đưa XXX "là sinh viên vừa tốt nghiệp 2014 của quý trường", và "trình độ tiếng Hán rất xuất sắc" xuống câu dưới. Trong các thành phần định ngữ của cuộc thi hùng biện tiếng Hán, thì thời gian tổ chức được tách riêng ra, đặt lên làm trạng ngữ cho cả câu, tránh việc định ngữ quá dài.
Và kết quả là:
Ngày 15 tháng 12 vừa qua, sinh viên XXX đã đại diện cho trường chúng tôi tham dự Cuộc thi hùng biện tiếng Hán dành cho du học sinh các trường Đại học trong thành phố Đại Liên lần thứ 16, và đã vinh dự giành giải Nhì. XXX là sinh viên tốt nghiệp năm 2014 của quý trường, em đã thể hiện trình độ tiếng Hán vô cùng xuất sắc, chúng tôi xin gửi tới quý trường lời chúc mừng nhiệt liệt.
5. Nói đi cũng phải nói lại. Việc bê nguyên xi cách diễn đạt từ tiếng nước ngoài vào tiếng Việt thực ra cũng có tác dụng của nó. Nó làm giàu đẹp thêm cho tiếng Việt. Nhưng việc tiếp nhận cách diễn đạt mới chỉ xảy ra với một điều kiện: cách diễn đạt mới ấy phải gọn ghẽ, chính xác, và tốt hơn cái mà tiếng Việt đang có. Bằng không thì tiếng Việt sẽ tự động đào thải nó. Xuân Diệu từng diễn tả "Hơn một loài hoa đã rụng cành", "hơn một" là cách nói kiểu Tây, tiếng Việt không nói thế. Lớn hơn một thì là "nhiều", nó gọn ghẽ hơn, vì thế cho đến giờ, "hơn một + N" vẫn đứng bên ngoài cửa tiếng Việt. Nó trụ lại được trong câu thơ trên, vì vận luật cần hai chữ ở vị trí đó, mà "nhiều" thì không thể đáp ứng được.
Hà Nội, 27.12.2014
Bài đã đăng trên fb ngày 27.12.2014
Nhận xét
Đăng nhận xét