Sờ sách
Ba tuần sờ sách đã qua. Nay ghi lại vài điều gói được mang về.
1
Trước đây, cũng đã được chạm tay vào sách cổ vài lần, nhưng thực ra chỉ nhìn mà không thấy. Do nhân duyên, được gọi đi vào kho khám sách, gật đầu tắp lự. Tưởng cất chân lên là đi, ai ngờ giời níu. Hôm sau, người đã lơ lửng vì đêm trước mất ngủ, ra đến đường lại gặp cơn mưa lớn. Áo mưa chẳng đủ che, gượng đi, đến khi ba lô đựng máy tính cũng ướt đẫm thì phải quay về cứu máy đã. Máy phơi khô rồi thì người đổ ốm, xuất kì bất lợi thế đấy.
2
-Anh nhận bao nhiêu sách? Ở đây giao việc thì tính bằng đơn vị trăm quyển hoặc nghìn quyển.
-...
3
3.1 Chưa khi nào được cầm vào nhiều quyển sách cổ một lúc như thế. Tuyền sách Trung Quốc. Sẽ hay hơn nếu được so sánh với sách khắc in tại Việt Nam, nhưng sơ sơ qua những điều lớn về quy cách thì thấy không khác nhau nhiều. Đại khái cũng đủ các phần “biên lan, bản tâm, ngư vĩ”.
3.2 Số sách để khám, niên đại xuất bản thì chủ yếu là quãng thế kỉ 19 đến đầu 20. Nhưng ván in thì khác, phần đa là ván khắc đời nhà Thanh, nhưng cũng có bản in từ ván cổ (phục chế?) từ đời Tống hoặc đời Minh. Thực không có thời gian để so kĩ xem ván Tống, ván Minh và ván Thanh về phương diện chế bản có gì khác nhau.
3.3 Có cả sách in bằng kĩ thuật hoạt tự thời cổ. Thoạt nhìn thì rất khó phân biệt đâu là sách khắc ván và đâu là sách in hoạt tự. Khám một bộ tùng thư đời Thanh (hàng khâm định), với gần 300 cuốn, trong đó có một cuốn ghi lại quy định về việc làm sách, miêu tả rõ việc làm ván in hoạt tự như thế nào:
(TQC0024286) "Khâm định Vũ Anh điện Tụ Trân bản trình thức". 1 quyển. Biên soạn đời nhà Thanh. Nội dung ghi chép về kĩ thuật in hoạt tự, có hình vẽ minh họa.
(Tên sách diễn nôm thế này: Quy trình, cách thức thực hiện bản in bộ Tụ Trân bản của Vũ Anh điện, sách dự án.)
Bèn mang sách đi hỏi cao nhân, làm sao nhìn ra là sách in hoạt tự hay không? Cao nhân cầm quyển sách giở lên giở xuống vài trang, rồi chỉ vào một chỗ, anh nhìn chỗ này, bla bla. Ồ!
Một bức ảnh minh họa về in hoạt tự.
3.3 Miêu tả một cuốn sách cổ, theo đúng chuẩn của văn hiến học Trung Quốc sẽ như thế này:
《武英殿聚珍版程式》,清金简撰,乾隆四十一年(1776年)武英殿聚珍版印本,1卷,每半页9行,行21字,白口,单鱼尾,四周双栏。版框19.1×12.9cm。版心下方镌“彭绍观校”4字。
卷前有乾隆甲午(1774年)仲夏《御制题武英殿聚珍版十韵》有序,金简等人奏议8件,后有金简撰记。
Gồm:
-tên sách,
-thông tin tác giả: tên + thời đại,
-thông tin xuất bản: năm in + nơi xuất bản,
-miêu tả sách: số quyển; mỗi nửa trang bao nhiêu hàng, mỗi hàng bao nhiêu chữ; phần lề là bạch khẩu hay hắc khẩu, có bao nhiêu ngư vĩ, viền khung là 1 nét (đơn lan) hay 2 nét (song lan) hay 1 nét to một nét nhỏ (văn vũ song lan); khung sách rộng dài; bản tâm có gì cần ghi chú không; sách có tựa hay bạt không, có phụ lục không vân vân.
Tên sách, số quyển, số trang, thậm chí cả nhà in, là những thông tin cơ bản về sách đều nằm ở mép lề. Câu tục ngữ “giấy rách phải giữ lấy lề”, chính là xuất phát từ thực tiễn của việc đọc sách, giữ sách. Phải nhìn vào lề mới biết được trang sách lẻ ấy thuộc về quyển nào, vị trí nào, mất lề coi như mất gốc. Mà lề cũng chính là “bản tâm”, rách mấy cũng cố giữ lấy cái bản tâm.
3.4 Việc xác định tên của quyển sách cũng không phải đơn giản. Tên ghi trên bìa sách không phải khi nào cũng trùng với tên sách. Tên ghi trên bìa sách đôi khi là cách nói vắn tắt, hoặc do nhà in đặt lại tên (ruột cũ nhưng bìa mới), vân vân. Nêu mấy trường hợp tôi gặp phải làm ví dụ:
“Ban Mã tự loại”, (Tống) Lâu Cơ. 5 quyển. Sách biên soạn đời Tống [1174 - 1189], bản khắc đời nhà Thanh. Nội dung là thu thập chữ Hán và từ trong "Sử kí" (của Tư Mã Thiên) và "Hán thư" (của Ban Cố), sắp xếp theo hệ thống Quảng vận, dưới mỗi chữ biên rõ xuất xứ. Bìa sách ghi tên khác là "Sử Hán tự loại".
→Bìa và bài tựa của sách đều xưng tên là “Sử Hán tự loại” (Sử, là Sử kí; Hán, là Hán thư), nhưng ruột sách, quyển 1 đề tên sách là “Ban Mã tự loại” (Ban, là Ban Cố; Mã, là Tư Mã Thiên).
“Ngũ xa vận phủ”. 10 quyển. Soạn đời nhà Minh. Bản khắc đời nhà Thanh. Nguyên tên là "Nguyên âm thống vận" 元音統韻, khi xuất bản đổi tên thành "Ngũ xa vận phủ". Đầu quyển có bài tựa của Phan Ứng Tân 潘應賓 (1708). Cuối sách in kèm 2 sách khác là "Đường Vận sớ" và "Cổ Vận sớ". Sách đặt lại tên hệ thống vận mục, dùng thuần chữ thuộc kiến 見 mẫu, gồm bình thanh 36 vần, thượng thanh 36 vần, khứ thanh 36 vần, nhập thanh 20 vần.
→Không rõ tên tác giả. Tác giả tự đặt tên là “Nguyên âm thống vận”, nhưng người mang sách đi khắc in lại đổi thành “Ngũ xa vận phủ”. Đổi tên nhưng trong nội dung vẫn xuất hiện nhiều chỗ đề “Nguyên thống” ( = Nguyên âm thống vận).
“Thuyết văn giải tự hệ truyện - thông thích”. (Nam Đường) Từ Khải. Sách soạn thời Ngũ Đại. Bản khắc thời nhà Thanh. Sách gồm 2 phần. Phần đầu là "Hệ truyện" từ quyển 1 đến quyển 28. Phần hai là "Thông thích" từ quyển 29 đến quyển 37. Cuối sách bổ sung thêm phần "Hiệu khám kí" của người hiệu khám tác phẩm.
→Bìa chỉ ghi là Thuyết văn hệ truyện.
3.5 Nghe nói cách đóng sách truyền thống của Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản không giống nhau. Nghe nói thôi, vì không được thực mục quan sát và so sánh. Khám sách không khám đến cả chuyện sách được đóng ra sao. Nhưng xem cách đóng sách cũng là một trong những cách giám định sách cổ. Lại nghe nói, có nơi phục chế sách cổ của ta, nhưng sách lại đóng theo kiểu Nhật (học về).
Nhưng từ chuyện đóng sách, mới dẫn đến câu chuyện này. Xưa các nhà sách bán sách, chỉ bán tờ rời. Người mua sách căn cứ theo nhu cầu của bản thân mà đóng riêng từng quyển, hoặc gộp ba quyển, năm quyển vào đóng thành một cuốn, làm hộp hay không vân vân. Như thế là cũng rất khác với cách bán sách thành phẩm bây giờ.
4
Ba tuần, cầm lên đặt xuống hơn 300 cuốn sách, khoảng 200 cuốn là các loại tự điển và vận thư. Tuy mỗi cuốn chỉ xem chừng năm mười phút, nhưng đã đủ để choáng ngợp về sự bùng nổ về các tự thư, tự điển, vận thư, sự khảo cứu công phu về tự hình, tự âm, tự nghĩa của các học giả đời trước. Học được rất nhiều.
Ví dụ nói về sự tiến hóa của các tự điển chữ Hán, xưa nay học trong sách vở chỉ biết đến những đỉnh cao, mà không nhìn sâu xuống được quá trình tiến hóa của nó, không biết đến những thử nghiệm khác đã bị lịch sử loại bỏ. Đọc sách mới thấy, ồ còn nhiều bước chân loạng choạng khác trước khi tìm ra phương cách tối ưu.
Rồi thì sự đa dạng về các loại tự thư, tự điển. Ví dụ, học tứ thư ngũ kinh thì cần biết bao nhiêu chữ Hán? Có ngay, có người làm riêng một cuốn chỉ thu chữ trong tứ thư ngũ kinh để làm một cuốn tự điển học sinh. Hay, “Hồng Vũ chính vận” là một cuốn tự điển xếp theo vần, nhưng gặp phải chữ không biết âm đọc là gì thì cũng không tra vào tự điển được. Không lo, có người làm cuốn tự điển nhỏ xếp chữ theo nét, không giải thích mà chỉ chú rõ chữ thuộc vần nào, để bổ trợ cho việc tra cứu trong “Hồng Vũ chính vận”.
Đọc sách, đọc được kĩ dĩ nhiên là hay, nhưng có cơ hội đọc thật nhiều, dù chỉ đọc lướt, thì cũng rộng mắt được khối.
27.7.2020
Bài đã đăng trên fb ngày 27/7/2020.
Đọc thêm:
Sách, đóng sách và tên gọi các bộ phận của một cuốn sách cổ: https://thuvienhuequang.vn/blogs/bai-viet/sach-dong-sach-va-ten-goi-cua-cac-bo-phan-mot-cuon-sach-co
Giới thiệu về sách “Khâm định Vũ Anh điện Tụ Trân bản trình thức”: https://www.dpm.org.cn/ancient/hall/148386.html
Kinh nghiệm giám định bản khắc (điêu bản) và bản hoạt tự: 古籍的雕版印刷与活字印刷鉴定 http://www.360doc.com/content/20/0720/00/22010781_925437304.shtml

Nhận xét
Đăng nhận xét