Lượm lặt vấn đề chính tả

 Đặt vấn đề

Trong tiếng miền Bắc, do một số phụ âm đầu lẫn với nhau mà đôi khi chính tả không khớp với từ nguyên của nó. Quy phạm dạng chính tả có hai thứ ràng buộc: 

Một là "ước định tục thành", bởi những nhà văn có tên tuổi đã viết như thế, những từ điển cũ đã viết như thế, dân cũng đã quen dùng như thế, nên lấy làm cách viết quy phạm. Đằng sau quy tắc "ước định tục thành" này là vấn đề nói thế nào viết thế ấy. Thời kì đầu khi quy phạm chưa định, người ta nói trong miệng thế nào thì viết ra tay thế ấy, nên có nhiều thứ mỗi người viết một lối. Sau này nhờ những nhà làm từ điển mà cố định dần. Những trường hợp chính tả kể dưới đây, đều được quy phạm theo lối này. 

Hai là bởi từ nguyên. Muốn quy phạm chính tả theo từ nguyên thì vấn đề từ nguyên của chữ phải được khảo sát kĩ lưỡng, đáng tin cậy. Cuối thập niên 1960, ông Lê Ngọc Trụ biên một cuốn Việt ngữ chánh tả tự vị, nhằm mục đích khảo từ nguyên của từ tiếng Việt. Công trình của ông tuy đóng góp lớn, song do thao tác khảo từ nguyên chưa chặt chẽ, lại đơn khảo từ nguyên gốc Hán, chưa xét các nguồn gốc khác, nên tính khả tín chịu nghi ngờ. Do thế công trình này chưa phát huy được đúng vai trò mong muốn.

Các ví dụ (bổ sung dần)

D ~ GI ~ R

- GIẾM, trong giấu giếm, nên là diếm. Chữ này với dém (giắt màn cho kín), điệm (đậy điệm) đồng nguyên, nghĩa là "làm cho kín". 

- GIẢI, giải thưởng, nên là dải. Vì dải là sợi dây treo vật để thưởng. Ai "giật được dải" thì "lấy được thưởng". Dải gốc từ 帶 đái. 帶 đái > dải (non sông một dải), dây (sợi dây), đai (đai lưng). 

-RƯNG, trong nước mắt rưng rưng, nên là dưng. Do chữ 盈 doanh, nghĩa là tràn đầy, 熱淚盈眶 nhiệt lệ doanh khuông là nước mắt tràn mi. 

-DÌM, trong dìm xuống, nên là gìm (không đọc ghìm). Do chữ 沉 trầm, chữ này có âm Nôm hoá là "chìm", theo quy luật tương ứng GI ~ TR thì nên đọc là gìm. 

-DƯ DẢ, nên là "dư giả" 餘者. Dư giả nghĩa là cái còn dư, còn thừa. Sau chuyển nghĩa chỉ "có nhiều đến thừa ra"

-DẢI, đi đái = đi dải. Quan hệ đ ~ d tương tự như 帶 đái ~ dải đã viết bên trên. Đi dải là cách nói trong khẩu ngữ, trong từ điển không ghi nhận (cả ở mục dải và mục giải) (Đã tra tại thời điểm viết dòng này). Cũng có người cho rằng phải viết đi "giải", là "giải" trong "giải toả" 解, đi để giải toả sự khó chịu do buồn đái. Tuy nhiên đây có thể chỉ là sự giải thích của dân gian cho hai từ "dải" và "giải" đã trở nên đồng âm ở đa phần phương ngữ, chỉ phân biệt về mặt chính tả. Tôi nghiêng về mối liên hệ "đái ~ dải".

-DẤM, dấm chua, cách viết với d phổ biến trong xã hội, xuất hiện trên những nhãn hiệu về mặt hàng này, nhưng trong từ điển ghi nhận cách viết "giấm" mới là hình thức chính tả được ưu tiên. Tra "dấm" sẽ thấy chú thích xem "giấm".   

CH ~ TR



Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Quy tắc chính tả: Bỏ dấu ở đâu?

Phiên âm tên riêng nước ngoài ra tiếng Việt

Nhật kí chạy bộ (phần 2)