Một bản nguồn có thể có bao nhiêu bản đích?
Một bản nguồn có thể có bao nhiêu bản đích? Phụ thuộc vào người dịch có bao nhiêu tự do sáng tạo.
Văn bản khoa học kĩ thuật, diễn văn của lãnh đạo vân vân, đều không dành nhiều không gian sáng tạo cho người dịch. Ấy thế nhưng... Kinh Thánh là một loại văn bản, về lí là không cho người dịch sự tự do, thế mà cùng một bản nguồn vẫn có rất nhiều bản dịch - tính trên một ngôn ngữ đích. Vì thế, người dịch lúc nào cũng sẽ có sự sáng tạo thôi, kể cả trong những không gian rất hẹp.
Với văn bản văn học nghệ thuật, người dịch có cơ hội trở thành người đồng sáng tạo. Ví dụ một bài thơ Đường trong chương trình phổ thông, trên trang web Thi viện, dưới bài thơ này có 56 bài trả lời, bày ra gần 50 bản dịch khác nhau. Dưới đây trích một số bản dịch theo các lối thơ truyền thống và lối thơ mới:
Bản nguồn:
黄鹤楼送孟浩然之广陵 Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng
故人西辞黄鹤楼 Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu,
烟花三月下扬州 Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.
孤帆远影碧空尽 Cô phàm viễn ảnh bích không tận,
惟见长江天际流 Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.
(A) Bản dịch theo lối thơ truyền thống:
1. Khương Hữu Dụng: (thất ngôn, vần ơi - ôi)
Hoàng Hạc lầu xưa bạn cũ rời
Dương Châu hoa khói tháng ba xuôi
Buồm đơn bóng hút vào xanh biếc
Chỉ thấy Trường Giang chảy cuối trời
2. Trần Trọng San: (thất ngôn, vần âu-au)
Bạn cũ dời chân Hoàng Hạc lâu
Tháng ba hoa khói xuống Dương Châu
Bóng buồm chìm lẫn trong trời biếc
Chỉ thấy Trường Giang vẫn chảy mau
3. Trần Trọng Kim: (lục bát, vần âu - ong - ông)
Phía tây bạn biệt Hạc lâu
Tháng ba trẩy xuống Dương Châu thuận dòng
Cánh buồm bóng hút màu không
Trông xa trắng xoá nước sông bên trời
4. Ngô Tất Tố: (lục bát, vần ương - ong - ông)
Bạn từ lầu Hạc lên đường
Giữa mùa hoa khói châu Dương xuôi dòng
Bóng buồm đã khuất bầu không
Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời
5. Ngô Tất Tố (lục bát, vần i - a)
Bạn từ lầu Hạc ra đi
Dương Châu hoa khói đương kỳ tháng ba
Xanh mờ ngập cánh buồm xa
Trường Giang hút thẳm trôi qua lòng trời
6. Khuyết danh (lục bát, vần âu - iên)
Bạn xưa từ chốn Hạc lầu
Ba xuân hoa khói Dương Châu xuôi thuyền
Bóng buồm trông đã xa miền
Sông dài nước chảy thấy liền trời xanh
(B) Bản dịch lối thơ mới:
7. Một bạn thơ trên Thi Viện
(Bài này viết năm chữ như thơ ngũ ngôn, vần đứng đúng chỗ, nhưng bằng trắc thì hiện đại, vần ây)
Giã từ về lối Tây
Hạc Lầu biệt tại đây
Tháng ba trùm hoa khói
Dương Châu buồn ngây ngây
Cánh buồm dần khuất bóng
Trời xanh nỗi nhớ đầy
Còn lại Trường Giang bóng
In lồng những cuộn mây
8. Một bạn thơ (gieo vần tiếp, hai câu một vần, vần âu - ây)
Lầu Hạc còn đây cố nhân đâu?
Xuân phong hiu hắt khói hoa sầu
Trông theo lồng lộng buồm đâu thấy
Thấy mỗi Trường Giang nước lẫn mây.
9. Một bạn thơ (gieo vần chéo, câu 2 và 4 một vần, vần ương)
Hoàng Hạc bên lầu đưa tiễn bạn
Tháng ba hoa khói rẽ châu Dương
Cánh buồm lẻ bóng nhoè mây biếc
Chỉ thấy sông dài theo khói sương.
Mấy lời bên lề:
-Những người dịch thơ theo lối cũ cố gắng tái hiện không khí và cảm xúc của thơ Đường, chứ không hẳn cố gắng tái hiện ngôn từ thơ Đường, nhất là những người chọn dịch theo lối lục bát. Những người dịch thơ mới, thì mượn cảnh chứ không mượn tình, vẫn là cảnh chia li bên lầu Hoàng Hạc, nhưng phô diễn một thứ tình cảm mới mẻ và hiện đại. Họ "mượn" cả hình thức ngũ ngôn và thất ngôn, nhưng lại không mấy quan tâm đến bằng trắc, hoặc gieo vần liên, vần chéo theo kiểu hiện đại.
-Thì đã sao nào? Nếu người dịch cho mình tự do.
-Hoặc, nó liên quan đến một thứ gọi là "giải mã văn bản", nếu bóc không tới, thì chuyển không được.
-Trong hai bài dịch theo lối thất ngôn, ông T.T San dịch từ trên xuống, ông K.H. Dụng dịch từ dưới lên.
Nhận xét
Đăng nhận xét