Space (punctuation): câu chuyện về văn tự và văn hoá
1. Khi viết chữ Quốc ngữ, giữa các chữ có một khoảng trống nhỏ, tiếng Việt gọi là “cách” 隔 ( < khoảng cách), tiếng Anh là “space” (khoảng không). Chữ Quốc ngữ kế thừa quy tắc chính tả này từ văn tự Latin, nhưng có một điểm hơi khác, là nó giãn cách các “chữ”, chứ không giãn cách các “từ”.
2. Nhưng không phải hệ chữ viết nào cũng có giãn cách giữa các chữ/ từ như thế. Chữ Hán không có khoảng cách (space) giữa các chữ, mỗi chữ chiếm một ô vuông, các ô vuông đặt liền nhau liên tiếp.
Khi mới học chữ Hán, không ai nói với tôi về điều này, lúc đó chúng tôi đều viết bằng tay, mà cũng không tự nhận ra điều này khi tập viết trên những tờ giấy kẻ ô, với các ô liền sát. Lần đầu tiên tôi nhận thức được giữa các chữ Hán không có khoảng cách là khi học gõ chữ Hán bằng phần mềm, khoảng Đại học năm thứ hai hay thứ ba gì đó. Phần mềm đầu tiên chúng tôi biết đến là TwinBridge (Song Kiều), phiên bản 2.0.
Wow, gõ thử “twinbridge” lên google và... nó vẫn tồn tại, đã lên phiên bản 6.5:
Có một kỉ niệm nhỏ (cách đây chừng chục năm) thế này, một người bạn Đài Loan đưa tôi một văn bản chữ Hán do sinh viên Việt Nam gõ, nội dung là gì tôi cũng không nhớ nữa, nhưng đoạn chữ Hán đó kiểu “床 前 明 月 光, 疑 是 地 上 霜, 舉 頭 望 明 月, 低 頭 思 故 鄉”. Tôi nhận xét, gõ chữ chưa đúng quy phạm lắm. Bạn nhìn lại tờ giấy và hỏi, sao? Tôi bảo, giữa các chữ Hán không nên có “space”. Tự dưng khuôn mặt của người bạn Đài Loan bừng lên như ngộ ra điều gì lí thú lắm, gật gù “Thảo nào, thảo nào, tôi cứ thấy kì kì mà không biết tại sao?” Nhận xét ấy làm tôi ấn tượng mãi. Một người Đài Loan thì biết mười mươi là giữa chữ Hán không có khoảng cách. Chỉ là họ không nghĩ đến chuyện người khác có thể không biết điều “hiển nhiên” đó. (Trong giao tiếp liên văn hóa, hiện tượng như thế này khá nhiều.) Tôi đã đi qua quãng đường từ không biết đến biết, nên nhận ra ngay. Mà cũng lạ, lỗi này lại hay thấy ở sinh viên ngành Hán Nôm khi họ mới học thêm tiếng Trung Quốc. Lí do tại sao tôi không biết. (Anh em ngành Hán Nôm nếu ai đã từng 如 此 輸 入 漢 字 có thể chia sẻ thêm chăng?)

3. Tìm hiểu lịch sử của khoảng cách giữa các chữ/ từ, mới thấy nó xuất hiện rất muộn, bắt đầu từ Anh quốc, mà nguyên nhân ban đầu là do “dốt” tiếng Latin, họ phải tách các từ ra để nhận đọc cho dễ hơn. Chẳng ngờ điều đó đã lan ra thành một tiêu chuẩn mới trong trình bày văn bản.
Việccácchữviếtliềntịtvớinhau xem ra không phải là vấn đề lớn trong suốt nhiều nghìn năm (với văn tự Hán thì cho đến tận bây giờ). Nghi ngờ rằng, nếu thế thì làm sao mà đọc được, thuần túy là lấy thói quen của chúng ta ngày nay để đánh giá về quá khứ, rất dễ sai lầm.
Một dạo, Aristophanes - một nhà soạn kịch người Hi lạp cổ đại dùng dấu chấm “·” để ngăn cách các từ, như·thế·này, nhưng điều này thậm chí bị cấm sau đó. Duy việc đặt một dấu chấm (point) vào giữa các từ để phân cách chúng, chính là nguồn gốc của chữ “punctuation” - dấu câu.
Tham khảo: Paul Saenger, Space between words: The origins of silents reading, 1997.
2. Nhưng không phải hệ chữ viết nào cũng có giãn cách giữa các chữ/ từ như thế. Chữ Hán không có khoảng cách (space) giữa các chữ, mỗi chữ chiếm một ô vuông, các ô vuông đặt liền nhau liên tiếp.
Khi mới học chữ Hán, không ai nói với tôi về điều này, lúc đó chúng tôi đều viết bằng tay, mà cũng không tự nhận ra điều này khi tập viết trên những tờ giấy kẻ ô, với các ô liền sát. Lần đầu tiên tôi nhận thức được giữa các chữ Hán không có khoảng cách là khi học gõ chữ Hán bằng phần mềm, khoảng Đại học năm thứ hai hay thứ ba gì đó. Phần mềm đầu tiên chúng tôi biết đến là TwinBridge (Song Kiều), phiên bản 2.0.
Wow, gõ thử “twinbridge” lên google và... nó vẫn tồn tại, đã lên phiên bản 6.5:

Có một kỉ niệm nhỏ (cách đây chừng chục năm) thế này, một người bạn Đài Loan đưa tôi một văn bản chữ Hán do sinh viên Việt Nam gõ, nội dung là gì tôi cũng không nhớ nữa, nhưng đoạn chữ Hán đó kiểu “床 前 明 月 光, 疑 是 地 上 霜, 舉 頭 望 明 月, 低 頭 思 故 鄉”. Tôi nhận xét, gõ chữ chưa đúng quy phạm lắm. Bạn nhìn lại tờ giấy và hỏi, sao? Tôi bảo, giữa các chữ Hán không nên có “space”. Tự dưng khuôn mặt của người bạn Đài Loan bừng lên như ngộ ra điều gì lí thú lắm, gật gù “Thảo nào, thảo nào, tôi cứ thấy kì kì mà không biết tại sao?” Nhận xét ấy làm tôi ấn tượng mãi. Một người Đài Loan thì biết mười mươi là giữa chữ Hán không có khoảng cách. Chỉ là họ không nghĩ đến chuyện người khác có thể không biết điều “hiển nhiên” đó. (Trong giao tiếp liên văn hóa, hiện tượng như thế này khá nhiều.) Tôi đã đi qua quãng đường từ không biết đến biết, nên nhận ra ngay. Mà cũng lạ, lỗi này lại hay thấy ở sinh viên ngành Hán Nôm khi họ mới học thêm tiếng Trung Quốc. Lí do tại sao tôi không biết. (Anh em ngành Hán Nôm nếu ai đã từng 如 此 輸 入 漢 字 có thể chia sẻ thêm chăng?)
Hình dưới (bên trái) là một tờ giấy có ô để viết chữ Hán thông dụng. Giữa các dòng thì có khoảng cách, còn giữa các ô chữ thì không. Bên phải là chữ chép trên vở, các chữ nằm sát cạnh nhau, không có “cách”.

3. Tìm hiểu lịch sử của khoảng cách giữa các chữ/ từ, mới thấy nó xuất hiện rất muộn, bắt đầu từ Anh quốc, mà nguyên nhân ban đầu là do “dốt” tiếng Latin, họ phải tách các từ ra để nhận đọc cho dễ hơn. Chẳng ngờ điều đó đã lan ra thành một tiêu chuẩn mới trong trình bày văn bản.
Việccácchữviếtliềntịtvớinhau xem ra không phải là vấn đề lớn trong suốt nhiều nghìn năm (với văn tự Hán thì cho đến tận bây giờ). Nghi ngờ rằng, nếu thế thì làm sao mà đọc được, thuần túy là lấy thói quen của chúng ta ngày nay để đánh giá về quá khứ, rất dễ sai lầm.
Một dạo, Aristophanes - một nhà soạn kịch người Hi lạp cổ đại dùng dấu chấm “·” để ngăn cách các từ, như·thế·này, nhưng điều này thậm chí bị cấm sau đó. Duy việc đặt một dấu chấm (point) vào giữa các từ để phân cách chúng, chính là nguồn gốc của chữ “punctuation” - dấu câu.
Tham khảo: Paul Saenger, Space between words: The origins of silents reading, 1997.
Đã đăng trên fb ngày 30/9/2020
Nhận xét
Đăng nhận xét