Tín trong dịch thuật
Học lí luận dịch tiếng Trung Quốc, bao giờ cũng được nhắc đến "tam nan nguyên tắc" 三难原则 (ba thứ khó trong việc dịch) của Nghiêm Phục 严复, đó là: tín, đạt và nhã.
"Tín", hiểu thế nào? Khăng khăng y cứ vào câu chữ của bản nguồn, có chữ nào dịch chữ ấy, có phải là "tín" không?
Đó không phải tinh thần mà Nghiêm Phục hướng tới. Nghiêm Phục cho rằng không nên câu nệ vào câu chữ của bản nguồn, cái cần đảm bảo là diễn đạt ở bản đích so với bản nguồn phải không mâu thuẫn, không thiên lệch, không thiếu sót, cũng không được tuỳ ý thêm thắt.
Tôi diễn giải thêm thế này, "tín" nghĩa là trung thành với bản nguồn, nhưng không được "ngu trung" 愚忠. Phải nhìn bản nguồn, nếu là một bản nguồn chỉn chu thì phải dành cho nó sự tôn trọng. Nhưng nếu là một bản nguồn dở tệ, câu cú lủng củng, ý tứ không được sắp xếp ngăn nắp, mà người dịch hồ đồ đi theo, thì vừa làm khó bản thân mà kết quả vẫn dở.
Làm thế nào để biết bản nguồn đã chỉn chu hay chưa? Điều này thực sự khảo nghiệm trình độ ngôn ngữ của người dịch. Theo quan sát của cá nhân tôi, người mới học thường rất khó phát hiện vấn đề của bản nguồn tiếng Việt, vì lẽ hiểu tiếng mẹ đẻ chưa đủ thấu đáo.
Nhận xét
Đăng nhận xét