Từ nguyên gốc Hán

 "Cứ như là chúng ta không có tiếng nói ấy"

Đây là một trong những phản ứng của độc giả khi đọc những phân tích từ nguyên gốc Hán trong tiếng Việt.

1. Thi thoảng tôi nhìn thấy nhận xét như trên, thái độ của tôi là "không hơi đâu...", nhưng nghĩ kĩ lại thì thấy im lặng cũng là tiêu cực, vậy nên tôi viết những dòng này, không nhằm mục đích "tranh luận" (chả có gì để tranh luận đâu), mà chỉ để vẽ ra một bức tranh khác thôi. 

2. Tôi tự nhận mình là người yêu say đắm tiếng Việt, và vì thế tôi muốn tìm hiểu về nó thật kĩ, và tôi có điều kiện làm việc ấy. Ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng là thứ luôn vận động, có rất nhiều sự vật hiện tượng mới xuất hiện và người ta sẽ phải tìm một từ để gọi chúng. Khi vốn từ bản địa dùng không đủ hoặc không đạt hiệu quả mong muốn thì sẽ vay mượn, đó là điều dễ hiểu và xảy ra tự nhiên với mọi ngôn ngữ. 

Xu hướng vay mượn, bao giờ cũng là từ nơi có trình độ khoa học kĩ thuật và xã hội phát triển hơn đến những nơi kém phát triển hơn. Xu thế này diễn ra chỉ bởi vì ở những nơi phát triển hơn thì sự vật hiện tượng mới xuất hiện nhanh hơn mà thôi. Châu Âu thì quy hướng về Hi Lạp - La Mã, thời trung cổ thì Anh thì hướng về Pháp để vay...vân vân. Như trong khoảng thời gian gần đây, tiếng Việt vay mượn từ tiếng Pháp hay tiếng Anh vậy. 

Vay mượn cũng là một quá trình hai chiều, ví dụ tiếng Anh cũng  mượn "ao dai" hay "banh mi" từ tiếng Việt, nhưng phạm vi thường là những đặc sản địa phương, và chiều ngược lại này thì rất ít và nhỏ giọt, do nhu cầu không nhiều. 

Tiếp theo quá trình vay mượn từ vựng, là quá trình bản địa hóa, tức là nhào nặn từ vay mượn đó theo mong muốn và sở thích của người bản địa. Ví dụ từ ê-kíp từ tiếng Pháp mượn vào tiếng Việt xong thì phân hóa nghĩa, nghĩa "nhóm hoạt động ăn ý với nhau" vẫn gọi là "ê-kíp", nhưng nghĩa "nhóm" không thôi thì chỉ còn "kíp" (ví dụ "kíp trực"). Hay ví dụ từ "mít tinh" trở thành một cuộc "tụ tập có động cơ chính trị" chứ không chỉ là một cuộc gặp mặt như nghĩa ban đầu của nó, sở dĩ vậy vì nghĩa "gặp mặt" hay "tụ họp" chúng ta đã có từ để diễn tả rồi.  

Việc vay mượn từ vựng là để làm giàu ngôn ngữ, phong phú thêm từ vựng, đa dạng và cụ thể hóa những sắc thái nghĩa mà trước đó chưa có. Khư khư không chịu vay mượn thì là có hại cho sự phát triển của ngôn ngữ. 

3. Trong sự vận động của ngôn ngữ, còn có một quá trình nữa gọi là "đào thải". Sự đào thải diễn ra khi xã hội tự nhiên không còn hứng thú với một từ vựng nào đó nữa. Khoảng hơn hai chục năm trước, từ "chuối" (danh từ) được cấp thêm một ý nghĩa là "yếu kém, vớ vẩn" (tính từ). "Thằng này chuối lắm", "làm ăn chuối bỏ xừ"... Tại sao lại có thêm nghĩa này, dù không có ghi chép nào để khẳng định chính xác, nhưng với tư cách là người chứng kiến giai đoạn từ "chuối" (sau này còn đẻ thêm "củ chuối") thịnh hành trong giới trẻ, tôi mạnh dạn đoán nó liên quan đến chức năng sinh lí của đàn ông, đến việc "mềm" hay "ỉu xìu", nhưng rõ ràng nó đã được dùng cho cả nam và nữ. Tôi cũng chứng kiến từ "chuối" này nhạt dần khỏi các đối thoại và biến mất, trước sau trong khoảng 10 năm. 

Đó là một trường hợp chúng ta quan sát được. Nhưng có nhiều từ đã lặng lẽ biến mất khỏi đời sống thường nhật mà không ai chú ý đến. Nó trở thành từ cũ, từ cổ, rồi nếu không "may mắn" được giữ lại trong những hóa thạch ngôn ngữ, thì sau này chẳng ai biết đến sự tồn tại của nó nữa. Ví dụ từ "trốc" trong "ăn trên ngồi trốc", "xôi" trong "xa xôi", qué trong "gà qué", má trong "chó má" vân vân. Không hiếm những từ cổ kiểu này trở thành thứ mọi người tranh cãi, ví dụ "nắng quái chiều hôm" thì "quái" nghĩa là gì, rất nhiều cách giải thích khác nhau. 

4. Tạo ra từ mới, vay mượn từ mới, đào thải từ cũ là quá trình lặp đi lặp lại trong lịch sử, tiếng Việt cứ theo đó mà liên tục đổi mới. Một người không còn trẻ nữa là tôi đôi khi cũng "lẩm cẩm" mà không hài lòng với việc "rõ ràng tiếng Việt có, việc gì phải mượn thêm ra cho phiền". Ví dụ gần đây người trẻ tuổi hay dùng từ "ship" với nghĩa "mai mối", ví dụ nói "bõ công ship hai anh chị ấy với nhau". Ơ thế từ "mai mối" nó vẫn có trong tiếng Việt mà, cứ làm như chúng ta không có ấy mà phải mượn từ "ship" kia làm gì! Không muốn dùng "mai mối" thì cũng còn khối cách diễn đạt khác, như "gán ghép", "vun vào", hay thi vị hơn thì là "chắp tơ". Đây là đoạn Thúy Kiều ship Thúy Vân với Kim Trọng: 

Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em. 

Nhưng tôi biết, những người trẻ hơn sẽ dè bỉu, ông già rõ hâm, ship nó mới hay chứ. 

Vì quá trình đổi mới này, tiếng Việt của thời nay khác xa thứ tiếng Việt đầu thế kỉ 20, chứ chưa nói là hàng trăm hay hàng nghìn năm trước. 

5. Bây giờ, nếu cộng thêm thời gian lịch sử là hàng trăm năm, có bao nhiêu từ "ship" đã gia nhập vào tiếng Việt? Bây giờ, nếu nhìn lại rằng thực tế Việt Nam mới chuyển sang xã hội đơn ngữ có từ năm 1945 đến nay thôi, còn trước đó là cả ngàn năm xã hội song ngữ, thì khả năng du nhập tiếng nước ngoài vào tiếng Việt lớn cỡ nào? Bao nhiêu từ cố hữu của tiếng Việt đã bị đào thải đến không còn tung tích? (Ba trăm năm trước chúng ta gọi "father" là "áng", "mother" là "ná", có bao nhiêu người biết điều đó.) Những con số có thể lớn đến mức vượt qua mọi sự tưởng tượng. 

Trở lại với câu hỏi, tại sao chúng tôi lấy chữ Hán ra so sánh để tìm nguồn gốc từ vựng tiếng Việt? Bởi những lí do rất thực tế: Thứ nhất do nguồn tiếp xúc của chúng ta tuyệt đại đa số là thông qua ngả chữ Hán, đến cả những từ vựng gốc Ấn Độ hay gốc Nhật Bản cũng qua ngả chữ Hán mà vào tiếng Việt. Thứ hai, chữ Hán giống như một viện bảo tàng, mà các thư tịch từ điển của tiếng Hán thì nhiều, nó cung cấp khả năng truy vết khi tìm hiểu về từ vựng. Thứ ba, là lượng vay mượn từ vựng lớn cho phép nhìn ra tính quy luật. 

Chúng tôi có muốn tìm các từ vựng gốc Thái, gốc Khmer hay gốc Chăm hay gì gì khác không? Có chứ sao không, nhưng khó làm hơn so với gốc Hán, mà cái nào dễ hơn thì làm trước.

Tiếng Việt vẫn là tiếng Việt, nó bao dung và mạnh mẽ. Những người cảm thấy chạm tự ái khi thấy sao tiếng Việt có nhiều từ gốc Hán thế, theo tôi là chưa nhìn ra quá trình nó trưởng thành, chưa cảm được sự bao dung và trẻ trung của tiếng Việt.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Quy tắc chính tả: Bỏ dấu ở đâu?

Phiên âm tên riêng nước ngoài ra tiếng Việt

Nhật kí chạy bộ (phần 2)