Miêu tả một cái bia
Nay vinh dự được Giáo sư Đinh Khắc Thuân nhờ hiệu đính bản tiếng Trung bài viết của giáo sư, bản này đã được người TQ nhuận sắc về mặt ngôn ngữ, nhưng có những cái họ không sửa được nên giáo sư nhờ mình đọc lại. Không phụ lòng giáo sư lắm, vì mình cũng moi ra được những cái mà người TQ lướt qua, vì thực ra họ cũng không hiểu lắm đoạn đó định viết cái gì. (Đoạn intro này nhằm quảng cáo rằng mình có thể nhận biên tập thuê.)
Lọ mọ ngồi hiệu đính- và cái gì không hiểu thì hỏi tác giả, cộng thêm vận dụng bách độ thần công, nên lại học được thêm cái này hay hay. Ấy là miêu tả bia và chú thích các mặt của bia như thế nào.
Bia ở VN chia làm hai loại: (1) Bia hai mặt, đây là loại thông thường nhất nên nói đến "bia" thì ngầm định là bia hai mặt. Mặt trước là "chính diện" 正面 (hoặc gọi mặt dương 碑陽), mặt sau là "bối diện" 背面 (hoặc gọi mặt âm 碑陰). (2) Bia trụ, hoặc cũng gọi là bia hộp, là loại bia có bốn mặt. Bia đời Lê thường là loại này. Loại bia hộp này không dịch là "tứ diện bi" 四面碑, dịch vậy là sai chắc luôn nhé. Tên đúng của nó là "tứ lăng bi" 四棱碑 (bia bốn cạnh). Ở ta, khi miêu tả bia hộp này người ta gọi các mặt bia là mặt 1, mặt 2, mặt 3, mặt 4, nhưng trật tự các mặt ra sao thì nhất định phải hỏi cho kĩ. Vì sau khi hỏi han với nhà bi kí học Đinh Khắc Thuân thì mới biết là trật tự các mặt đôi khi rất ngẫu nhiên, lí do như sau:
THÔNG THƯỜNG, mặt 1 là chính diện, và đối với nó, mặt 3 sẽ là bối diện. Nếu nội dung của bốn mặt liền một mạch, thì các mặt bia tính theo đường tròn thuận chiều kim đồng hồ, tương ứng với bốn mặt 1 - 2 - 3 - 4 là chính - tả - bối - hữu. Sở dĩ như vậy vì văn bản chữ Hán truyền thống viết từ phải sang trái, thuận chiều văn bản. Nếu bốn mặt bia nội dung độc lập với nhau thì sẽ tính như sau: 1 - 2 - 3 - 4 là chính - hữu - bối - tả ( =đường tròn ngược chiều kim đồng hồ).
"Thông thường" thì là thế, nhưng ở ta, như giáo sư Thuân nói, trật tự 1 - 2 - 3 - 4 là ghi theo người đánh số thác bản. Vậy nên nó nảy ra vấn đề thế này, nếu bốn mặt bia liền một mạch, thì (chắc là) các mặt 1 - 2 - 3 - 4 sẽ có trật tự, chứ nếu bốn mặt riêng biệt thì chả biết lúc xếp các thác bản có bị xáo trộn trật tự hay không, nếu không thực mục sở thị hiện vật thì chuyện trước sau phải trái gì đó chẳng biết đích xác cho được.
Thế thì, với những bia mà xác định được trước sau phải trái, thì các tác giả cứ viết rõ ra trước sau phải trái cho người đọc (hay người hiệu đính) biết, chứ cứ một hai ba bốn thì đúng là chỉ có trong bụng các tác giả tự biết mà thôi. Còn nếu bốn mặt bia độc lập với nhau, không dễ xác định trước sau phải trái thì các tác giả viết rõ là "thác bản số...", vì các mặt bia này sẽ có mã số thác bản khác nhau, chứ đừng cố miêu tả nó là mặt 1 hay mặt 2.
Giới thiệu một đoạn tả bia hộp, trong đoạn này có nhiều thuật ngữ tôi cũng không rõ tiếng Việt là gì, nhưng sẽ tìm hiểu.
从形制上讲,四棱碑是一种与传统石碑风格迥异的碑类,它由碑座、碑柱和碑帽组成,因碑体四面均镌刻相关文字而得名。
四棱碑一般为官立或官方允立,内容大多系官方的有关规定或村规民约;六枝境内的四棱碑现仅见洒志、岩脚、落别等乡镇尚有残存。
洒志乡洒志村洒志街村民组的四棱碑立于清代光绪年间,碑帽似伞盖,顶部为石球造型。碑体通高230厘米,其中,碑柱宽33厘米,高195厘米,碑帽高35厘米,宽48.5厘米。碑体正面镌刻“告示”,右面镌刻“内粮”,背面镌刻“剔弊碑”,左面字迹泯灭难辨。“告示”主要陈述官员经过该地捐款、捐粮、出力等存在问题给民间带来的疾苦,对此作出相应取缔,落款时间是光绪十六年;“剔弊碑”对有关流弊及采取措施同样也有明文规定,落款时间是光绪九年十二月;“内粮”下均是人名,没有落款时间。综合起来便可看出:这块碑是后人把相关内容集中在一起后镌刻塑立的。洒志村旧时地处通往关岭的古驿道上,系古代交通要冲,该碑的存在并非偶然。
Một số thuật ngữ:
形制 (tạo hình); 四棱碑 (bia hộp); 碑座 (đế bia); 碑柱 (trụ bia/ thân bia?); 碑帽 (mũ bia); 碑体 (?); 碑体通高 (?, ý rằng từ đất đến đỉnh cao bao nhiêu); 正面 (mặt trước); 右面 (mặt phải); 背面 (mặt sau); 左面 (mặt trái). (Lưu ý trật tự từng mặt là trước - phải - sau - trái.)
镌刻 (khắc); 字迹泯灭难辨: chữ đã mòn mờ khó đọc; 落款 (lạc khoản); 镌刻塑立: khắc và dựng bia.
Link: https://baijiahao.baidu.com/s?id=1676542002399988043&wfr=spider&for=pc
Nhận xét
Đăng nhận xét