Phấn trắng bút đỏ
【Phấn trắng bút đỏ】
Chuyện kể về bộ kiện "nữ" 女
Hầu như năm nào thảo luận với sinh viên về đề tài nghiên cứu khoa học, tôi cũng thấy có nhóm muốn nghiên cứu về "bộ thủ" nữ và liên hệ nó với "nam tôn nữ ti" với "kì thị giới tính" trong tiếng Hán, xa hơn là văn hóa trọng nam khinh nữ của Nho giáo. Lần nào hỏi tại sao các em nghĩ như thế, thì cũng sẽ được nghe giải thích kèm ví dụ thế này: vì bộ thủ nữ thường gắn với những từ có khái niệm xấu như 奸 gian, 嫉 tật, 妒 đố, 嫌 hiềm, 妨 phương hoặc thân phận thấp kém như 奴 nô, 婢 tì, 卑 ti. Trăm lần như một.
Có những câu chuyện, kể làm quà, kể cho vui thì được, nhưng lúc kể mà mặt mũi ngay ngắn quá, thật thà quá thì người học tưởng là thật. Mà truyền thuyết này lưu truyền khá rộng, lưu độc rất sâu, nên mới có chuyện năm nào cũng được nghe bài ca cũ ấy. Nhiều lúc tôi cũng không kiên nhẫn được.
Khi nào đủ mát tính, thì tôi sẽ từ tốn mềm mỏng thế này: Suy nghĩ của em rất hay, nó chạm đến một vấn đề lớn là "giới tính trong ngôn ngữ" hoặc "kì thị giới tính" trong ngôn ngữ. Không phải chỉ có tiếng Hán có điều này. Danh từ tiếng Pháp hay tiếng Đức đều có phạm trù giống đực giống cái khác biệt, tiếng Anh tuy không rõ nét, nhưng nhiều danh từ phân biệt nam nữ, ví dụ actor/ actress vân vân. Hoặc trong tiếng Thái, ví dụ "xin chào" nam nói sawadee krab mà nữ nói sawadee ka, nam nữ cũng không được lẫn lộn. Em thử đặt vấn đề của mình vào trong một tầm nhìn rộng hơn rồi phân tích xem, biết đâu em sẽ thấy những yếu tố văn hóa thú vị, và có thể so sánh giữa văn hóa Đông - Tây, giữa văn hóa nền tảng Nho giáo và văn hóa nền tảng Phật giáo. Kết hợp với bạn nào đó bên khoa Đức cùng nghiên cứu nữa thì càng hay. Ví dụ các danh từ giống cái trong tiếng Đức liệu có giống tiếng Hán là mang hàm nghĩa tiêu cực không? Cá nhân thầy thấy tiếng Hán ít phân biệt giới tính hơn tiếng Pháp hay tiếng Đức. Không biết thầy có sai không. [*]
Điều phiền lòng là, sau khi khích lệ dữ dội như thế thì sinh viên im lặng đổi đề tài khác. Em không dấn thân, thì bọn trẻ sau em lại bảo "à, hình như chưa có senpai nào làm đề tài này, mình chiến thôi."
[*] Vấn đề thuộc "văn tự" và thuộc "ngôn ngữ" thì có khác biệt, nhưng đằng sau đó đều là văn hóa.
Khi không đủ mát tính thì tôi bảo: điều em nói có dựa trên thống kê không, hay dựa vào "truyền thuyết"? Em đã thống kê xem có bao nhiêu chữ mang bộ "nữ" trong tiếng Hán chưa? Chưa? OK, thầy sẽ giúp: thống kê theo Hán Điển có 492 chữ Hán chứa bộ nữ thuộc nhóm chữ cơ bản (ngoài nhóm này là những chữ hiếm dùng), trong đó có bao nhiêu chữ mang nghĩa "xấu" như em đã liệt kê, bao nhiêu chữ thuộc nhóm "trung tính" (tức là chỉ để trỏ từ liên quan đến nữ giới, ví dụ "妈,婆,姨,姑,奶"), bao nhiêu chữ mang nghĩa "tốt" (ví dụ: 好,妙,娇, 妍,妥......), bao nhiêu chữ không có nghĩa, tồn tại chỉ để đặt tên cho con gái? Thống kê đi, xem đặc trưng biểu nghĩa của bộ thủ "nữ" là gì, liệu "nói xấu phụ nữ" có phải đặc trưng nổi bật hay không? Nếu làm rồi mà vẫn còn khỏe (hành hữu dư lực) thì em xem bộ kiện "nam" 男 có được bao nhiêu chữ? bộ kiện "nhân" 人 có bao nhiêu chữ, trong đó bao nhiêu chữ mang hàm nghĩa xấu. Làm đi nhé.
Sau khi bị thầy phũ thì sinh viên im thít không thấy làm gì, cho dù với sự giúp đỡ của công nghệ máy tính hiện nay, thống kê 492 chữ Hán thiết tưởng không phải việc quá khó. Thế là lại không đứa nào dấn thân, thế là sang năm lại có đứa "à, hình như chưa có senpai nào làm đề tài này, mình chiến thôi."
Nghĩ nó chán.
Thế sao thầy không làm đi. Vì thầy vẫn còn kiên nhẫn, thầy để đấy để năm này qua năm khác hướng dẫn cho sinh viên cách suy nghĩ về tính khả thi của đề tài.
À, thực ra có một thứ mình muốn làm nghiên cứu mà chưa biết làm thế nào: tại sao và bằng cách nào các truyền thuyết loại này có thể tồn tại và lưu truyền lâu dài?
Nhận xét
Đăng nhận xét