Sự ra đời của từ "phụ nữ"

 1. câu hỏi thế này: tại sao trong tiếng Việt chỉ có từ ghép “phụ nữ” mà không có từ ghép (ví dụ) “phu nam”. Câu hỏi này liên quan đến một thứ gọi là “bất đối xứng” trong ngôn ngữ, thứ tồn tại tự nhiên trong bất kì ngôn ngữ nào.

Ví dụ, trong tiếng Anh danh xưng cho đàn ông chỉ có Mr, nhưng danh xưng cho phụ nữ thì có tận hai cái: Mrs hoặc Miss để phân biệt người phụ nữ có chồng và chưa chồng. Không ai đòi hỏi đàn ông phải công khai tình trạng hôn nhân thông qua danh xưng. Chỉ đến gần đây, người ta mới đòi phụ nữ cũng có quyền không công khai tình trạng hôn nhân, và dẫn đến việc gộp Mrs vào với Miss để thành Ms. Dẫn một chuyện cũng gần với chủ đề của câu hỏi nhưng ở bên tiếng Anh để minh họa cho sự bất đối xứng trong ngôn ngữ.

Tìm hiểu lí do cho những thứ bất đối xứng trong ngôn ngữ (kiểu như, có thể nói “ít nói, ít cười” nhưng lại không nói “nhiều nói, nhiều cười” – tại sao chứ?) có thể rất thú vị, nhưng cũng rất khó, chỉ dành cho những người chuyên nghiệp. Còn trong cuộc sống thường ngày, cứ truy vấn mãi những chuyện như thế không khéo lại thành gàn dở.

2. Câu hỏi trên đây dẫn tôi đến một câu hỏi khác, từ “phụ nữ” ra đời như thế nào? Tìm hiểu nhanh thì biết được một số thông tin như sau.

Cho đến cuối đời Thanh, trong tiếng Hán không tồn tại từ “phụ nữ” mà chỉ có hai từ riêng biệt là “phụ” và “nữ”, và cũng không có từ để trỏ “đàn bà con gái nói chung”. Cách dùng “phụ nữ” lần đầu xuất hiện năm 1898, trong một sớ tấu của Khương Hữu Vi dâng lên Hoàng đế nhà Thanh nhằm kêu gọi triều đình cấm việc bó chân của nữ giới. Tờ sớ có tiêu đề “Thỉnh cấm phụ nữ khỏa túc chiết” (Sớ tâu xin cấm đàn bà con gái bó chân). Nhưng lúc này, chữ “phụ nữ” vẫn là một cụm từ đẳng lập nghĩa là “đàn bà và con gái”.  Cuối đời nhà Thanh, từ để trỏ chung “đàn bà con gái” là “nữ tử” hoặc là “nữ”, ví dụ các tờ báo có tên “Nữ học báo”, “Nữ báo”, “Nữ tử thế giới”, “Trung Quốc nữ báo”, “Trung Quốc tân nữ giới tạp chí”.

Đến sau Ngũ Tứ, “nữ tính” (từ gốc Nhật) trở thành một chủ đề ưa thích trong văn học thời kì mới, rồi thông qua phim và kịch để trở nên quen thuộc với đại chúng (ví dụ bộ phim nổi tiếng “Tân nữ tính” (1935) của Sái Sở Sinh). So với “nữ tính”, từ “nữ tử” có mối quan hệ quá gần gũi với văn ngôn, nên bị giới tri thức mới coi là “từ cũ”, dần lép vế hoặc chỉ tồn tại trong những tiểu thuyết kiểu cũ. Cũng trong khoảng thời gian này, cách dùng “phụ nữ” lại được tái phát hiện (tục gọi là “đào mộ”) và xuất hiện với tần suất cao. Hầu hết các ấn phẩm dành cho phụ nữ ở thời gian này đều lấy “phụ nữ” làm tiêu đề, ví dụ các tạp chí “Tân phụ nữ”, “Phụ nữ tạp chí”, “Phụ nữ họa báo”, “Phụ nữ bình luận” vân vân. Lúc này, từ “phụ nữ” tồn tại song song với các từ như “nữ tử” hoặc “phụ nhân”, nhưng được dùng thường xuyên hơn.

3. Tiếng Việt du nhập những từ ngữ này như thế nào là câu chuyện chắc chắn rất thú vị để tìm hiểu. Đầu thế kỉ 20, ở Việt Nam đã từng xuất hiện những tờ báo cho phái nữ như “Nữ giới chung” (1918)* và “Phụ nữ tân văn” (1929-1934). Trong “Lời tựa đầu” của tờ báo Nữ giới chung, bà Sương Nguyệt Anh dùng nhiều từ khác nhau để diễn tả khái niệm “phụ nữ”, như: “chị em nhà”, “nữ (đề xướng nữ học)”, “bạn gái”, “đờn bà”, “đờn bà con gái”, “bạn má đào”, nhưng chưa có từ “phụ nữ”. Đến sau thì “Phụ nữ tân văn” đã đưa hai chữ “phụ nữ” lên tít báo.

Một từ khác là “nữ tính” (trong tiếng Nhật tương đương “phụ nữ”), thì trong tiếng Việt hiện nay lại trỏ “tính chất phụ nữ” hay “tính chất đàn bà”, và cũng được dùng như một tính từ (ví dụ: rất nữ tính).

*Tờ Nữ giới chung chỉ tồn tại từ tháng 2 đến tháng 7 năm 1918.

Nguồn tham khảo: http://www.aisixiang.com/data/12282.html#

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Quy tắc chính tả: Bỏ dấu ở đâu?

Phiên âm tên riêng nước ngoài ra tiếng Việt

Nhật kí chạy bộ (phần 2)