Nội dung dưới đây là ghi chép cá nhân, có thể không phản ánh trung thực nhất ý tưởng của diễn giả, chỉ phản ánh người ghi "đã nghe như thế" (如是我闻), đã "tưởng (là)" như thế.
Cách dùng thuật ngữ "tiếng Hán" dưới đây là theo thói quen của người viết, Gs Teng không dùng từ này.
1. Gs Teng có hơn 30 năm giảng dạy tiếng Hán và nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Hán dưới góc độ giảng dạy. Chủ đề Gs chia sẻ trong buổi tọa đàm cũng là một vấn đề ngữ pháp mà theo lời Gs là "khiến những nhà nghiên cứu ở Đại lục vật vã hơn 60 năm nay", đó là vấn đề "nội động từ" - "ngoại động từ" trong tiếng Hán.
2. Trước khi vào chủ đề chính, Gs có màn "warm up" bằng việc chia sẻ "Chinese" nên diễn đạt là gì, Hoa ngữ, Hán ngữ hay Trung văn. Hoa ngữ 华语 là cách diễn đạt phổ biến ở Đài Loan (Hán ngữ 汉语 không có chỗ đứng ở đây). Ngược lại, ở Đại lục, "Hán ngữ" 汉语 mới là cách gọi chính thức. Gs cho rằng, nên sử dụng Trung văn 中文, đây là một cách diễn đạt truyền thống, tương tự như Anh văn 英文, Pháp văn 法文, và sẽ thoát khỏi sự liên tưởng chính trị.
Về nội hàm của Trung văn có khác với Hoa ngữ, Hán ngữ hay không, Gs không trả lời trực tiếp, Gs Nguyễn Hoàng Anh truyền đạt lại lời giải thích của một Gs khác, cho rằng Hán ngữ hay Hoa ngữ nhấn mạnh yếu tố "ngữ" (ngôn ngữ, khẩu ngữ), còn Trung văn thì bao hàm cả ngôn ngữ và chữ viết. Đó cũng là một cách giải thích.
Trong tiếng Nhật, "Chinese" là "Trung Quốc ngữ" 中国语. Trong tiếng Việt, người ta dùng cả ba thuật ngữ "tiếng Trung Quốc" (gọi tên ngành học, đây là cách gọi chính thức), "tiếng Hán" (trỏ một ngoại ngữ) và "tiếng Hoa" (trỏ tiếng nói của dân tộc Hoa).
3. Gs Teng bắt đầu câu chuyện "nội động từ - ngoại động từ" bằng những lỗi ngữ pháp mà sinh viên nước ngoài hay gặp phải. Ví dụ: *他要结婚他邻居的女兒。(Cậu ấy muốn cưới con gái nhà hàng xóm), *他想見面老师谈一谈这件事。(Cậu ấy muốn gặp thầy giáo để nói về việc này) v.v.. 结婚 (kết hôn, cưới, gả) 见面 (gặp mặt, gặp) là những động từ không thể mang tân ngữ (object) trực tiếp, nên những câu trên là sai ngữ pháp.
Tại sao người học gặp phải lỗi NP này? Gs cho rằng, căn nguyên không chỉ từ việc học, việc dạy, mà giáo trình phải chịu một phần trách nhiệm.
(1) Các giáo trình ở Đại lục, Đài Loan hay ở Mỹ hiện nay không đánh dấu nội/ngoại động cho động từ. (Tất nhiên, ngoại trừ bộ giáo trình mà Gs. Teng chủ biên.)
(2) Phần giải thích nghĩa từ vựng của các giáo trình này vô tình gây nhầm lẫn cho người học. Ví dụ, 结婚 được dịch sang tiếng Anh là "marry", 见面 là "see, meet" v.v.. mà trong tiếng Anh, những từ này có thể mang tân ngữ (object).
4. Thay vì đưa ra một giải pháp tình thế để bổ cứu những chỗ khiếm khuyết của giáo trình (ví dụ, thêm một dòng giải thích về cách dùng sau mỗi từ, "cưới ai đó" thì là 跟谁结婚, "gặp ai đó" 跟谁见面,见谁的面), Gs Teng chủ trương một giải pháp căn bản là từ việc sửa chữa hệ thống.
Đến đây thì câu chuyện không còn/ không chỉ là "lỗi ngữ pháp của người học" nữa, mà là "lỗi của hệ thống ngữ pháp hiện hành". Vì thế, người nghe đừng cố tranh luận với Gs rằng vấn đề *见面老师 rất dễ sửa, chỉ cần dán một cái nhãn đây là "động từ li hợp", đặc điểm của loại động từ này là không mang tân ngữ trực tiếp, tân ngữ phải do giới từ dẫn ra và đứng trước động từ ("kết hôn"), hoặc tân ngữ chui vào giữa động từ (như "gặp mặt"). "Lỗi của người học" chỉ là con ve, "đánh dấu nội/ ngoại động" chỉ là con bọ ngựa, cái đáng kể là con chim sẻ đằng sau.(*)
Vì thế dưới đây, tôi sẽ cố gắng tái hiện tư tưởng ngữ pháp học của Gs. Teng theo những gì tôi nghe được trong buổi tọa đàm. Để có một hình dung chính xác về tư tưởng này cần phải đọc các trước tác của Gs + lý lịch khoa học của Gs. Điều tuyệt vời của buổi tọa đàm là, Gs đã tóm tắt những thứ tinh túy nhất của sự nghiệp nghiên cứu trong một khoảng thời gian chừng hai giờ đồng hồ. Lắng nghe Gs thuyết trình, cảm giác đúng là "một bữa nghe thầy giảng, như đọc sách mười năm".
(*) Lấy ý tứ từ câu thành ngữ Trung Quốc: 螳螂捕蝉,黄雀在后。"Đường lang bổ thiền, hoàng tước tại hậu." Câu này nghĩa mặt chữ là: "Bọ ngựa rình bắt ve sầu, nào ngờ chim sẻ nó chầu phía sau." Lấy cái ý "cái nguy hiểm nhất là cái sau cùng".
5. Gs. Teng mang theo hai cuốn sách tặng Khoa Trung, một trong hai cuốn đó là 《现代汉语语法讲义》 (Tập bài giảng về ngữ pháp Hán ngữ hiện đại), xuất bản năm 2022.(*) Gs. Teng giải thích rằng, hai chữ "讲义" (Tập bài giảng) chính là học theo 《语法讲义》(Tập bài giảng về ngữ pháp) của Chu Đức Hy 朱德熙. Một lời giới thiệu khá ngắn gọn, thoáng qua, nhưng nhìn lại toàn bộ câu chuyện, thì hóa ra lại là một thông tin quan trọng. Gs Teng bày tỏ niềm ngưỡng mộ với bậc học giả tiền bối, và cái việc noi theo tên sách của tiền bối, rất có dáng dấp của tư tưởng "kiến hiền tư tề" (thấy người giỏi giang, thì nghĩ đến việc phấn đấu sao cho bằng người). (*) Cứ theo tên của cuốn sách, thì đến năm 2022, Gs Teng vẫn hài lòng với việc dùng từ 汉语 "Hán ngữ".
Gs Chu Đức Hy là một trong những người đặt nền móng cho hệ thống ngữ pháp hiện hành. Hệ thống này xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa kết cấu của ngôn ngữ học miêu tả Mĩ, với những sự phát triển riêng của Trung Quốc. Ở bên ngoài Trung Quốc, nhất là ở Mĩ và châu Âu, đã có nhiều trường phái ngữ pháp khác nổi lên sau chủ nghĩa kết cấu. Bất chấp sự sôi động đó, giới ngữ pháp học ở Trung Quốc vẫn kiên trì với quan điểm, chủ nghĩa kết cấu với những công cụ như "phân bố", "thay thế", "chuyển hoán" và phân tích theo tầng bậc, là phù hợp để miêu tả và giải thích ngữ pháp của ngôn ngữ đơn lập không biến hình như tiếng Hán. Chủ nghĩa kết cấu xây dựng thành trì vững chắc tại Trung Quốc, đặc biệt là trong ngữ pháp nhà trường (教学语法). Gs Teng muốn thách thức nền tảng này. Ông muốn và đã xây dựng một hệ thống ngữ pháp nhà trường trên cơ sở ngữ pháp Case (Case grammar).
6. Gs Teng mang đến buổi tọa đàm ba đầu sách. Một cuốn "Tập bài giảng" tôi đã nhắc đến bên trên, một bộ giáo trình Trung văn do ông chủ biên (当代中文课程), và một cuốn sách bổ trợ là Các điểm ngữ pháp tiếng Trung (当代中文语法点全集). Ba cuốn này, cuốn đầu thể hiện tư tưởng ngữ pháp của Gs, hai cuốn sau là tư tưởng đó được hiện thực hóa vào giáo trình như thế nào. Ba đầu sách lặng lẽ xuất hiện trong buổi tọa đàm, dưới hình thức sách tặng (cuốn Tập bài giảng và Các điểm ngữ pháp), còn bộ giáo trình thì chỉ được nhắc đến trong slide so sánh với các giáo trình hiện hành khác ở Đại lục, Đài Loan và Mỹ. Một sự khiêm nhường đáng kinh ngạc, nhưng cũng thể hiện sự tự tin của tác giả, rằng "hữu xạ tự nhiên hương".
Tôi chưa được đọc hai cuốn sách mà Gs mang đến tặng, nhưng tôi háo hức chờ đợi điều đó.
7. Một hệ thống mới, thì phải có sự ưu việt gì chứ? Gs Teng phê phán hệ thống cũ (hệ thống Chu Đức Hy) ở điểm, càng miêu tả kĩ, tiếng Hán càng trở nên khác biệt với phần còn lại của thế giới. Chủ trương "đây là đặc điểm của tiếng Hán" sẽ cản trở quá trình hòa nhập quốc tế của nền ngữ pháp Trung Quốc.
Gs Teng tán đồng chủ trương của Chomsky, ngôn ngữ có những quy luật phổ quát, cấu trúc ngôn ngữ gồm tầng mặt và tầng sâu, tầng mặt có thể khác biệt, nhưng ở tầng sâu, tất cả các ngôn ngữ đều tuân thủ những quy tắc phổ quát. Đây là những điểm mà ngữ pháp Case kế thừa từ Ngữ pháp phổ quát của Chomsky. Nếu đi từ những quy tắc phổ quát này, chúng ta có thể xây dựng một hệ thống ngữ pháp tiếng Hán gần gũi với các ngôn ngữ còn lại trên thế giới.
8. Theo Gs Teng, những câu ví dụ kinh điển dưới đây đã khiến học giả ở Đại lục vật vã hơn 60 năm nay:
台上坐着主席团。(Trên lễ đài đương ngồi đoàn chủ tịch. Nghĩa là: Hiện diện trên lễ đài là đoàn chủ tịch.)
我家来了一个客人。(Nhà tôi đến một người khách. Nghĩa là: Có một người khách đến thăm nhà tôi.)
王冕七岁死了父亲。(Vương Miện bẩy tuổi chết cha. Nghĩa là: Vương Miện bảy tuổi mồ côi cha.)
Về mặt tri nhận, "đoàn chủ tịch" là agent (施事) của động từ "ngồi", nhưng vị trí của nó lại nằm phía sau động từ. (Các ví dụ khác tương tự) Vào thập niên 30 của thế kỉ trước, chính những câu ví dụ này đã làm nổi lên cuộc tranh luận thế nào là "chủ ngữ", thế nào là "tân ngữ".
Chính Chu Đức Hy là người đã giúp bình định sự tranh luận đó bằng việc đưa ra quan điểm "đặc điểm của tiếng Hán" (hay nói rộng hơn là đặc điểm của các ngôn ngữ đơn lập) là không có sự tương ứng một - một giữa thành phần câu và từ loại, theo đó thì các vai nghĩa cũng vậy. Trật tự từ có vai trò quyết định hơn. Dựa trên quan điểm này, trong các ví dụ trên, 主席团、客人、父亲 lần lượt là "tân ngữ" của các động từ 坐、来 và 死. Hệ quả của điều này là trong miêu tả ngữ pháp của TQ, người ta không đánh dấu động từ là nội động (vi) hay ngoại động (vt). Bởi lẽ, nếu căn cứ trên định nghĩa “ngoại động từ là động từ mang tân ngữ trực tiếp”, thì "死" (chết) có thể mang tân ngữ 父亲 (cha), thế thì là "ngoại động từ". Điều này đi ngược lại với tri nhận về 死 (chết) là sự mất đi sinh mạng của agent, nó không tác động đến patient (受事) nào cả, "死" (chết) phải là một nội động từ.
9. Gs Teng muốn dựa vào Ngữ pháp Case để đưa ra một cách miêu tả khác về hệ thống ngữ pháp của tiếng Hán. Theo đó, ở cấu trúc tầng sâu, câu tiếng Hán cũng như các ngôn ngữ khác trên thế giới đều có thể phân tích thành S → NP + VP. Xem xét argument structure (论元结构) của một cấu trúc tối giản và đủ nghĩa, nếu VP chỉ liên kết đến một argument đó là nội động từ, nếu VP liên kết đến hai argument thì là ngoại động từ, nếu VP liên kết đến ba argument thì đó là ngoại động từ hai tân ngữ.
Chủ ngữ/ tân ngữ (tức là các argument liên quan đến VP) có thể là các từ loại khác, không phải danh từ hay không? Ví dụ tân ngữ "động từ" (我同意参加), chủ ngữ "tính từ" (漂亮不是罪).
Gs Teng cho rằng đó chỉ là biểu hiện ở bề mặt, nhất định là sự rút gọn của "câu" (một câu tương đương một NP) ở bề sâu.
Với kiểu câu được coi là đặc thù của tiếng Hán, như câu vị ngữ danh từ 我老婆30岁了,câu vị ngữ tính từ 她很漂亮, Gs Teng có kiến giải riêng.
Tính từ (Adjective), Gs xếp vào loại động từ trạng thái, là một tiểu loại của động từ. Trong giới ngữ pháp ở Đại lục, cũng có người chủ trương nên gộp V và Adj vào làm một, gọi là Vị từ (từ làm vị ngữ).
Câu vị ngữ danh từ, Gs Teng cho rằng đó đều là kết quả của sự tỉnh lược VP trong quá trình chuyển từ tầng sâu lên tầng mặt.
Như thế, nếu muốn đánh giá trọn vẹn tư tưởng NP của Gs, cần phải xem những phân tích của Gs về quá trình chuyển từ tầng sâu lên tầng mặt như thế nào. Trong một buổi thuyết trình kéo dài hai giờ đồng hồ, Gs chỉ tập trung làm rõ quan điểm về việc xác định nội/ ngoại động từ trong tiếng Hán.
10. Những người có mặt trong phòng hội thảo hôm đó, nếu đọc được phần ghi chép này chắc sẽ thấy "hình như có gì đó sai sai", vì một phần quan trọng của buổi thuyết trình là Gs Teng phê bình các luận điểm ngữ pháp của bà Lưu Nguyệt Hoa 刘月华, thế mà tôi không nhắc gì.
Đó lại là một chi tiết khá hay liên quan đến ứng xử trong văn hóa Trung Hoa. Bà Lưu Nguyệt Hoa, dẫu là một giáo sư có tiếng, thì cũng là người cùng thời với Gs Teng, phê bình bà là chuyện của hai người bạn cùng thế hệ. Nhưng, hệ thống ngữ pháp mà bà Lưu Nguyệt Hoa thể hiện trong tác phẩm 《实用现代汉语语法》, chỉ là kế thừa hệ thống của các tiền bối như Chu Đức Hy, Lã Thúc Tương. "Bề mặt" là phê bình Lưu Nguyệt Hoa, nhưng ở "bề sâu", đó chính là sự phê bình dành cho hệ thống ngữ pháp mà các tiền bối như Chu Đức Hy định hình.
Đó là một cuộc lật đổ, nhưng Gs Teng không muốn bắn viên đạn nào vào quá khứ, nó dễ gây ra sự phiền toái không cần thiết. Hãy cứ lặng lẽ, cứ để hoa tự tỏa hương. Cuộc lật đổ có thành công hay không, dành cho tương lai trả lời.
Nhận xét
Đăng nhận xét