Bài đăng

Đang hiển thị bài đăng từ Tháng 3, 2021

“Phiên dịch” tiếng địa phương Huế

Bài copy trên mạng, nguồn: hinhanhvietnam Nội dung không mới, nhưng viết nhí nhảnh, dễ thương   “Phiên dịch” tiếng địa phương Huế Các bạn thường đùa rằng, tiếng Huế là “chi, mô, răng,rứa”, nhưng để hiểu và sử dụng nằm lòng các từ này thì cũng không phải đơn giản. Người Huế hỏi: “Mi đi mô rứa?”, nếu so với ngôn ngữ chuẩn thì các bạn phải hiểu là “Mày đi đâu thế?” Chữ “mi”, các bạn tạm hiểu đó là ngôi thứ 2 số ít, tương đương với “mày”, “bạn”. Tương tự như thế, “bọn mi” hay “tụi mi” thì tương đương với “chúng mày”, “bọn mày” hay “các bạn”. Ngôn ngữ trong phim Tàu thường được nhóm lồng tiếng dùng là “các ngươi”, chúng đều có nghĩa như nhau vậy. Chúng ta lại tiếp tục nói về “chi, mô, răng, rứa”. – Chữ “chi” tương đương với chữ “gì”. “Làm chi” có nghĩa là “làm gì”. Ví dụ người Huế nói: “Mi đang làm cái chi rứa?” thì tiếng chuẩn là “Mày đang làm gì thế?” hoặc “Bạn đang làm gì vậy?”. Chữ “chi” không những được dùng rộng rãi trong tiếng Huế mà ngay cả hai miền Bắc, Nam cũng dùng rất nhiều....

Kinh nghiệm tìm tên làng cổ (Trần Ngọc Đông)

 Nguyên lời anh Trần Ngọc Đông:  "Kinh nghiệm của tôi khi tra tên làng bây giờ so với làng cổ ngày xưa là. 1. Nếu tên không bị đổi thì tên làng cổ thường là tên thôn trong xã bây giờ. 2. Xem bia đá, sắc phong xem địa danh xưa đó là gì ( cái này thì hiếm còn). 3.Xem những tên làng lân cận xem tên nào có vẻ là tên cổ rồi tra sách địa bạ, kết hợp Google Maps xem làng ấy là khu vực nào bây giờ theo mô tả trong địa bạ. 4. Dùng định vị làng bây giờ rồi gán với bản đồ 1925 có các tên làng cổ sẽ tra ra. Tuy nhiên một số vẫn rất khó tra nhất là tỉnh Phú Thọ. Họ đổi hết tên cổ thành khu theo số." Nhận xét về trường hợp Phú Thọ: Nếu đã đổi hết tên làng thành khu theo số, thì phải có văn bản hành chính về việc đổi tên làng (logic thông thường), có thể văn bản đó sẽ có đối chiếu tên làng cũ và tên khu mới. (Tìm với bên địa bạ.) Trong trường hợp chính quyền chỉ vẽ lại bản đồ quy hoạch và đánh số từng khu thôi, không ghi chú tên cũ, thì phải dùng bản đồ đó tìm người cao tuổi mà hỏi dò lại t...

Từ nguyên gốc Hán

 "Cứ như là chúng ta không có tiếng nói ấy" Đây là một trong những phản ứng của độc giả khi đọc những phân tích từ nguyên gốc Hán trong tiếng Việt. 1. Thi thoảng tôi nhìn thấy nhận xét như trên, thái độ của tôi là "không hơi đâu...", nhưng nghĩ kĩ lại thì thấy im lặng cũng là tiêu cực, vậy nên tôi viết những dòng này, không nhằm mục đích "tranh luận" (chả có gì để tranh luận đâu), mà chỉ để vẽ ra một bức tranh khác thôi.  2. Tôi tự nhận mình là người yêu say đắm tiếng Việt, và vì thế tôi muốn tìm hiểu về nó thật kĩ, và tôi có điều kiện làm việc ấy. Ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng là thứ luôn vận động, có rất nhiều sự vật hiện tượng mới xuất hiện và người ta sẽ phải tìm một từ để gọi chúng. Khi vốn từ bản địa dùng không đủ hoặc không đạt hiệu quả mong muốn thì sẽ vay mượn, đó là điều dễ hiểu và xảy ra tự nhiên với mọi ngôn ngữ.  Xu hướng vay mượn, bao giờ cũng là từ nơi có trình độ khoa học kĩ thuật và xã hội phát triển hơn đến những nơi kém phát...

Một số thuật ngữ ngành xuất bản

A Ấn phẩm: sản phẩm được in ra   B Bản gốc: Là bản viết đầu tiên làm cơ sở cho nhiều bản phụ Bản kẽm: Tấm kẽm có hình nổi để in Bản quyền tác giả: Là quyền sở hữu và quyết định đối với xuất bản phẩm Bản quyền: Quyền lợi riêng của tác giả hay của Nhà xuất bản Bản thảo: Văn bản được viết tay hoặc đánh máy để biên tập, hoặc trước khi đem in Bìa cứng: Bìa sách được gia công cứng, thường dùng cốt là bìa cứng duplex 2 mm bên ngoài bọc giấy coushe in mầu Bìa mềm: Bìa sách được dùng bằng giấy thường có định lượng giấy tiêu chuẩn là từ 200g/m2 đến 300g/m2 Biên tập viên: Người làm công tác biên tập Biên tập: Là công việc chuyên môn làm sách nhằm hoàn thiện bản thảo để xuất bản bao gồm các công đoạn như: Bông: Bản thảo được in thử trên giấy được dùng để biên tập chỉnh sửa   C-D Cán bóng: Công nghệ cán một lớp nilon lên trên bề mặt giấy in nhằm làm tăng độ bền đẹp của trang in giúp cho mầu sắc sáng bóng Cán mờ: Công nghệ cán một lớp nilon lên...

Sự thật phũ phàng về Hiệp định Paris 1973

Hình ảnh
Bài báo đăng trên RFA ngày 17.12.2012 Bài báo tiết lộ, Mĩ sẽ không can thiệp nếu chính quyền Cộng hòa Việt Nam sụp đổ 2 năm sau khi kí hiệp định Paris, nghĩa là thời điểm giải phóng miền Nam đã được quyết định từ 3 năm trước đó. Theo tác giả Hiệp định được chốt ở Bắc Kinh chứ không phải tại Paris, theo cách nhìn này, thì không có cái gọi là "chiến thắng ngoại giao trên bàn hội nghị" mà chẳng qua vẫn là một cuộc mặc cả giữa Mĩ và Trung Quốc về vấn đề Việt Nam, sự cù cưa trên bàn Hội nghị mang ý nghĩa trình diễn nhiều hơn thực tế, có thể cả hai bên đều đã nhận thức rõ ràng họ (sẽ) có được cái gì. Mà nếu như vậy, thì những bản chất của Hội nghị Paris cũng không khác so với Hội nghị Geneva, khi mà vận mệnh của Việt Nam nằm trong tay các nước lớn, đặc biệt là Trung Quốc. (Dẫu giành chiến thắng oanh liệt trong trận Điện Biên Phủ, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có rất ít quyền tự chủ tại Geneva. Và té ra, Paris cũng vậy.) Năm 1972, khi Trung Quốc tiến hành bình thường hóa qua...

Độc thân vs. đơn thân

"Mẹ góa con côi" hay "gà trống nuôi con" là những hoàn cảnh gia đình nằm trong khái niệm "gia đình đơn thân" bây giờ, khi chỉ có một bên cha (phụ thân) hoặc mẹ (mẫu thân) nuôi dưỡng con cái. Bây giờ  thì có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc nuôi con một mình hơn ngày xưa, thậm chí có cả lựa chọn không kết hôn chỉ làm mẹ.  Chữ "thân" trong "gia đình đơn thân" là chữ Hán 親 trong "mẫu thân", "phụ thân", chứ không phải "thân thể" 身 như trong "độc thân" hay "trơ thân cụ".  Độc thân 獨身 và đơn thân 單親 là những khái niệm khác nhau. Nghĩa "đơn thân" này chưa được ghi nhận trong Từ điển.  Nhưng có một từ "đơn thân" khác đồng nghĩa với "độc thân" 獨身, từ này đã được ghi nhận trong từ điển:  Đơn thân tt. Chỉ sống một mình, không lập gia đình. Đồng nghĩa: độc thân.   Đơn thân này thì ghi chữ Hán là 單身, gọi là đơn thân 1. Đơn thân 2 單親 thì vẫn tổ chức thành gia đình hạt nhâ...

Quả (phụ) 寡 > (bà) goá // (bà) hoá > (bà) vá

1. Từ điển Khai Trí Tiến Đức (1931) ghi: Goá, cũng nói là "hoá". Nói người đàn bà chết chồng hay đàn ông chết vợ.  Từ điển Việt ngữ chánh tả tự vị ghi nhận hoá > vá, có thể là diễn biến trong phương ngữ Nam.  Từ hoá sang vá, do diễn biến hw > w > v. Đây là diễn biến muộn về sau này. 2. Từ quả sang goá, diễn biến k > g khá phổ biến trong âm Nôm hoá. Giả thiết về điều kiện xảy ra diễn biến này là việc có một tiền âm tiết hữu thanh ví dụ *a-quả > goá. Âm vực cao của thanh điệu gợi ý rằng sự diễn biến ak > g diễn ra sau khi âm vực thanh điệu đã định hình (khoảng thế kỉ 12-15).  Từ quả/goá > hoá là rất khó giải thích. Cho dù k (hoặc g) và h có vị trí phát âm tương cận, nhưng rất hiếm chứng cứ trong tiếng Việt cho thấy chúng có thể biến đổi sang nhau. Một trường hợp khác tương tự là 竭力 kiệt lực = hết sức. Goá ~ hoá, kiệt ~ hết là cặp hỗ chứng cho nhau, và đều không đủ chắc chắn. (Một sự trùng hợp là "hết" cũng có thanh điệu âm vực cao.) 3. Một khả năn...

Những nghề muôn năm cũ

 Một bài khá thú vị đăng trên báo Nhân Dân của tác giả Nguyễn Hòa, những mảnh kí ức về thời đã qua.   Link: https://nhandan.com.vn/di-san/nhung-nghe-muon-nam-cu-405265 NHỮNG NGHỀ MUÔN NĂM CŨ Vào mấy năm đầu của thế kỷ 21, cuộc sống đã có nhiều chuyển dịch theo hướng phát triển và một biến thiên văn hóa - xã hội mới đang diễn ra, đẩy tới tình huống bên nhiều "cái cũ" đang dần dà phai nhạt thì nhiều "cái mới" vừa ló dạng hôm nào, nay như đã thành điều hiển nhiên. Riêng về mặt nghề nghiệp cũng đã thấy có nhiều sự lạ. Từ làng quê xa xôi đến chốn thị thành, hiếm ở nơi đâu lại không bắt gặp các loại biển hiệu sặc sỡ, kẻ vẽ công phu từ internet tốc độ cao, Xay xát gạo, Ðánh máy vi tính, In laze, photocopy, Sửa chữa và bảo trì điện thoại, Sửa ti-vi... đến Ép plastic, Sửa chữa xe máy, Bán và cho thuê đĩa CD, Giặt khô là hơi... Chúng mặc nhiên thay thế cho các kiểu loại biển hiệu với đôi ba dòng chữ xanh xanh đỏ đỏ, kẻ vẽ nhôm nhoam, tạm bợ ngày nào còn nhan nhản đó đây, từ Q...

牌坊 = Phường môn; 婊子立牌坊

Hình ảnh
牌坊:旧时为旌表功德、宣扬封建礼教而建造的建筑物 Kiểu kiến trúc này ở Việt Nam có, nhưng tôi không biết tên gọi của nó là gì. Vì ấn tượng là trong Huế có kiến trúc này, nên lội tìm giới thiệu về Huế, quả nhiên, có thể tìm thấy nó trong ảnh giới thiệu về Đại nội, về Điện Thái Hòa.  Ấy nhưng cũng phải mò mẫm mãi mới lần ra được, tên em nó là "Phường môn". Tìm được hai chữ Phường môn rồi thì google ra được rất nhiều kết quả, còn tìm ra được cách miêu tả của người Việt về kiểu kiến trúc ấy, gọi là kiến trúc "giá chiêng".  Trích một kết quả tìm thấy trên mạng:  Bước qua khỏi Ngọ Môn, thả mình tản bộ trong lãnh địa của Hoàng thành, rồi Tử Cấm Thành ta sẽ có được cái cảm giác ngạc nhiên, thích thú khi ngắm nhìn các cổng, cửa với đủ loại hình. Hai cổng “ Phường môn ” đúc bằng đồng đặt ở hai đầu cầu Trung Đạo trông thật đơn giản mà tinh tế. Kiểu Phường môn này ta còn thấy ở lăng Minh Mạng là lăng Thiệu Trị. Tuy cùng kiểu “giá chiêng” như các Phường môn làm bằng đá ở phía trước phần tẩm thờ lăng ...

Đảm đang: từ "gánh vác" thành "khéo thu vén"

Bên dưới dẫn lại bài viết của Phạm Thị Hoài ngày 8/3/2021, tiêu đề "Đảm đang tôm rang hành mỡ". Án: "Đảm đang" (nghĩa là gánh vác) là một từ của thế hệ Đỏ, nhưng nó nhanh chóng biến nghĩa để thành tính từ mang nghĩa "khéo thu vén" và dành cho phụ nữ. (Xem câu chuyện dưới đây).  Vào lúc này, ở Trung Quốc cũng rất hưng dùng hai chữ "đảm đang" (担当) với nghĩa là "gánh vác trách nhiệm"[*], và hoàn toàn không thiên vị giới tính. 担当精神 là cụm từ rất hay dùng khi nói về phẩm chất Đảng viên ĐCS TQ, phần nào đó tương đương với cụm "dám nghĩ dám làm" của VN. 担当精神 được cụ thể hoá thành "五个敢于“ (năm dám), so với VN là "hai dám".  [*] Trong một post trước, tôi dùng chữ 有担当,有格局 để dịch cụm "có tâm, có tầm" của tiếng Việt, trong đó "có tâm" nghĩa là làm việc có tâm, chịu trách nhiệm với việc mình làm. Đảm đang tôm rang hành mỡ Th3 8, 2021 Phạm Thị Hoài Trong vòng ba năm qua, mỗi lần thả hai chữ  đảm đang  v...

Còn xơi - xa xôi

Còn xơi. Ví dụ: còn xơi mới đến Tết . Còn xơi nghĩa là "còn lâu". "Lâu" nghĩa là khoảng cách giữa hai mốc thời gian là xa. Chữ "xơi" này và chữ "xôi" trong "xa xôi" nên là cùng gốc. Vậy thì: 1. Cả hai yếu tố này ít nhiều đều đã mất nghĩa. Xơi chỉ bộc lộ nghĩa "lâu/ xa" khi đi trong cụm "còn xơi". Đứng một mình "xơi" được hiểu là ăn. Xôi, cũng chỉ còn trong từ GHÉP "xa xôi". Xơi ~ xôi nên coi là từ cổ. 2. Quan hệ ngữ âm giữa xơi ~ xôi là như thế nào? Nối một đường từ ơ sang ô miễn cưỡng có thể vẽ ra được, lấy a làm trạm trung chuyển, vì a một đầu gắn với ô (本 bổn / bản, 譜 phổ / phả, 簿 bộ / bạ, 佈 bố / bá), một đầu gắn với ơ (山 san / sơn, 彈 đàn / đờn, 代 đại / đời, (利)lãi / lời). Nhưng tốt nhất vẫn là tìm được ví dụ về quan hệ ơ ~ ô, không thì trạm trung chuyển kia có khi không cho khách...

Một số kĩ năng phần mềm văn phòng

1-Copy tên file trong một folder.  Bước 1: Trong file cần tạo mục lục, tạo ra mới 1 file text (Click chuột phải chọn new →Text Document) và đổi tên file đó thành (ví dụ) mucluc.txt.  Bước 2: Bạn vào trong file đó gõ dir /b>mucluc.txt rồi thoát ra (Nhớ bấm Ctrl+S để lưu nha :3). Với các file có unicode cần thêm lệnh chcp 65001 Vd: chcp 65001 dir /b > mucluc.txt Bước 3: Bạn cần đổi tên file mucluc.txt thành mucluc.bat (Để đổi được đuôi thì trước tiên phải hiển thị đuôi file lên.) Bước 4: Chạy file mucluc.bat [Tầm lúc sau sẽ cho ra một file mucluc.txt bên trong đó sẽ chứa các tên file trong folder bạn cần] Note: Một số lệnh bên trong file mucluc.bat (gõ lệnh trong file .txt lúc trước khi đổi đuôi thành .bat) với lệnh dir: /b là chỉ liệt kê tên file. Nếu muốn có thêm các thông tin đầy đủ khác (Size, date/time,...) thì bỏ /b đi; /s là liệt kê luôn cả các thư mục con (subdir) ở trong các folder con. Ví dụ dir /b /s /o:n là sort by name, /o:s là sort by size, /o:d là sor...