Bài đăng

Từ nguyên của "lụng" trong "làm lụng"

Hình ảnh
  Xét ở góc độ đồng đại, "lụng" trong "làm lụng" là một tiếng vô nghĩa. Từ phương diện lịch sử, "lụng" có lẽ có gốc từ chữ Hán "lộng" 弄. 弄, lộng, chữ hội ý, hai tay cầm viên ngọc mà chơi. Mở rộng nghĩa ra là cầm đồ gì đó mà chơi, ví dụ "lộng kiếm" 弄剑 = múa kiếm, "lộng cầm" 弄琴 = đánh đàn. Mở rộng nghĩa tiếp là cầm thứ thiêng liêng mà chơi, dẫn đến thái độ coi thường với thứ thiêng liêng đó, ví dụ "lộng quyền" 弄权, "lộng pháp" 弄法 (coi quyền lực, pháp luật như trò chơi). Từ đó dẫn thêm nghĩa là "coi thường, đùa cợt", trong "trào lộng" 嘲弄. Đến đời nhà Thanh, thì "lộng" chỉ còn nghĩa là thao tác bằng hai tay, "lộng phạn" 弄饭 là "làm cơm". Không biết "làm" và "lộng (>lụng)" kết hợp với nhau thành một từ ghép là từ khi nào (tạm chưa có cách gì để khảo chứng). -Nếu là một kết hợp ở giai đoạn sớm, thì là sự kết hợp giữa hai yếu tố trái nghĩa ...

Tọa đàm ngữ pháp học với GS. Teng Shou-hsin 邓守信

Hình ảnh
Nội dung dưới đây là ghi chép cá nhân, có thể không phản ánh trung thực nhất ý tưởng của diễn giả, chỉ phản ánh người ghi "đã nghe như thế" (如是我闻), đã "tưởng (là)" như thế.  Cách dùng thuật ngữ "tiếng Hán" dưới đây là theo thói quen của người viết, Gs Teng không dùng từ này. 1. Gs Teng có hơn 30 năm giảng dạy tiếng Hán và nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Hán dưới góc độ giảng dạy. Chủ đề Gs chia sẻ trong buổi tọa đàm cũng là một vấn đề ngữ pháp mà theo lời Gs là "khiến những nhà nghiên cứu ở Đại lục vật vã hơn 60 năm nay", đó là vấn đề "nội động từ" - "ngoại động từ" trong tiếng Hán.  2. Trước khi vào chủ đề chính, Gs có màn "warm up" bằng việc chia sẻ "Chinese" nên diễn đạt là gì, Hoa ngữ, Hán ngữ hay Trung văn. Hoa ngữ 华语 là cách diễn đạt phổ biến ở Đài Loan (Hán ngữ 汉语 không có chỗ đứng ở đây). Ngược lại, ở Đại lục, "Hán ngữ" 汉语 mới là cách gọi chính thức. Gs cho rằng, nên sử dụng Trung văn 中文, đ...

Từ nguyên các từ "Hán ngữ", "Hoa ngữ" và "Chinese"

  "Chinese" nên diễn đạt là gì, Hoa ngữ, Hán ngữ hay Trung văn? Hoa ngữ 华语 là cách diễn đạt phổ biến ở Đài Loan (Hán ngữ 汉语 không có chỗ đứng ở đây). Ngược lại, ở Đại lục, "Hán ngữ" 汉语 mới là cách gọi chính thức. Có người cho rằng, nên sử dụng Trung văn 中文, đây là một cách diễn đạt truyền thống, tương tự như Anh văn 英文, Pháp văn 法文, và sẽ thoát khỏi sự liên tưởng chính trị. Trong tiếng Nhật, "Chinese" là "Trung Quốc ngữ" 中国语. Trong tiếng Việt, người ta dùng cả ba thuật ngữ "tiếng Trung Quốc" (gọi tên ngành học, đây là cách gọi chính thức), "tiếng Hán" (trỏ một ngoại ngữ) và "tiếng Hoa" (trỏ tiếng nói của dân tộc Hoa trong đại gia đình các dân tộc ở Việt Nam). Về từ nguyên các từ "Hán ngữ", "Hoa ngữ" và "Chinese": 1. Hán ngữ - Hán tộc: Bắt nguồn từ "Hán tự" (Han character). "Hán tự" là chữ viết quan phương của đời nhà Hán, đánh dấu "kim văn tự" thay thế ...

Nhật kí chạy bộ (phần 4)

Hình ảnh
 Nhật kí chạy Cuc Phuong Jungle paths 1. Cú hích Như đã kể trong nhật kí trước, tôi bắt đầu việc chạy khi có một cú hích. Cú hích đó là việc đăng kí chạy Cúc Phương Jungle paths (tháng 11/2022). Đó là một mục tiêu và sáu tháng chuẩn bị cho mục tiêu đó, từ số 0.  Cúc Phương Jungle paths cự li 10km đã diễn ra ngày hôm qua (2/4/2023). Mọi thứ diễn ra tốt hơn những gì tôi mong đợi. 2. Tại sao lại là Cuc Phuong Jungle paths? Chọn Jungle paths thực ra là do ngu ngơ thôi, lúc chọn chỉ nghĩ là được chạy giữa rừng là sướng. Đúng kiểu nghé non không biết sợ cọp, điếc chả sợ súng. Jungle path không chỉ phải chạy mà còn phải leo trèo và đủ các kĩ năng khác nữa. Ví dụ một đoạn mà mình phải chậm rãi từng bước thì mấy hảo thủ khác họ … nhảy. Vụ nhảy này không có trong chương trình luyện tập trước giải. Jungle path phải dùng loại giày chạy trail. Giày chạy thường có hạn chế với kiểu đường hỗn hợp như thế. 3. Tuy đường chạy là 10 km, nhưng non một nửa là phải đi bộ do đường trơn quá, hẹp quá, ...

Nhật kí chạy bộ (phần 2)

Hình ảnh
  2. Một người mới cần lưu ý những điều gì? Những điều chia sẻ dưới đây không phải là lí thuyết nhặt ra từ cuốn sách nào đó, mà chúng đến từ trải nghiệm thất bại của tôi. Tôi tuy mới toanh trên đường chạy, nhưng tôi đã có trải nghiệm thất bại ở ngay chính việc chạy và các môn thể thao khác. Phải đến khi tôi được học về vận động một cách bài bản hơn, thì mới dần hiểu nguồn cơn của những sự thất bại ấy. Điều thứ nhất : Hưu hướng Như Lai* *Trích câu kệ của Mãn Giác thiền sư: “Hưu hướng Như Lai hành ngã hành” (nghĩa là: chớ bắt chước Như Lai, cứ làm theo cách phù hợp với mình). Như Lai là người thành công. Để vươn lên đỉnh cao thành công, ông ta cũng phải leo từng bậc thang. Chớ thấy những người thành công làm điều gì một cách dễ dàng mà nghĩ mình cũng có thể copy ngay tắp lự. Đây là bài học tôi nhận được từ năm sáu năm về trước. Năm sáu năm trước, tôi đã từng đi chạy với những người giỏi hơn mình rất nhiều. Khi bắt đầu, tôi cố gắng theo kịp họ nhưng nhanh chóng xuống sức, th...

Nhật kí chạy bộ (phần 1)

Hình ảnh
NHẬT KÍ CHẠY BỘ Tôi sẽ viết nhật kí về việc chạy bộ của một người mới chạy, là tôi. Ý tưởng này nảy ra trên đường chạy sáng nay. Murakami viết một cuốn sách về việc chạy bộ, ở đó ông chia sẻ góc nhìn của một người chạy thành công. Điều đó rất tuyệt, cuốn sách rất đáng đọc. Nhưng nó sẽ nhận được nhiều đồng cảm hơn từ những người chạy thành công khác. Còn với người mới bắt đầu chạy bộ, như tôi, sẽ muốn nghe chia sẻ của một người cũng mới bắt đầu hơn , về những câu chuyện làm thế nào để bắt đầu, làm thế nào để cảm nhận việc chạy bộ có nhiều thứ thú vị hơn là hành xác. Tôi là người mới, rất mới. Vì tôi mua đôi giày chạy đầu tiên của mình trong đợt Black Friday tháng 11/2022 vừa rồi. Tôi sẽ ghi chép lại giai đoạn mới bắt đầu này của tôi. Nội dung của nó sẽ là một cuộc hỏi đáp giữa tôi và chính mình, nơi tôi chia sẻ các băn khoăn của mình và câu trả lời mà tôi tìm được. Tôi không rõ ghi chép này có thể kéo dài bao lâu. Nó phụ thuộc việc tôi sẽ kiên trì việc chạy trong bao lâu. Thự...

Sự ra đời của từ "phụ nữ"

 1 . Có câu hỏi thế này: tại sao trong tiếng Việt chỉ có từ ghép “p hụ nữ” mà không có từ ghép (ví dụ) “phu nam”. Câu hỏi này liên quan đến một thứ gọi là “bất đối xứng” trong ngôn ngữ, thứ tồn tại tự nhiên trong bất kì ngôn ngữ nào. Ví dụ, trong tiếng Anh danh xưng cho đàn ông chỉ có Mr, nhưng danh xưng cho phụ nữ thì có tận hai cái: Mrs hoặc Miss để phân biệt người phụ nữ có chồng và chưa chồng. Không ai đòi hỏi đàn ông phải công khai tình trạng hôn nhân thông qua danh xưng. Chỉ đến gần đây, người ta mới đòi phụ nữ cũng có quyền không công khai tình trạng hôn nhân, và dẫn đến việc gộp Mrs vào với Miss để thành Ms. Dẫn một chuyện cũng gần với chủ đề của câu hỏi nhưng ở bên tiếng Anh để minh họa cho sự bất đối xứng trong ngôn ngữ. Tìm hiểu lí do cho những thứ bất đối xứng trong ngôn ngữ (kiểu như, có thể nói “ít nói, ít cười” nhưng lại không nói “nhiều nói, nhiều cười” – tại sao chứ?) có thể rất thú vị, nhưng cũng rất khó, chỉ dành cho những người chuyên nghiệp. Còn trong cuộc ...