Bài đăng

Đang hiển thị bài đăng từ Tháng 2, 2021

Một bản nguồn có thể có bao nhiêu bản đích?

Một bản nguồn có thể có bao nhiêu bản đích? Phụ thuộc vào người dịch có bao nhiêu tự do sáng tạo.  Văn bản khoa học kĩ thuật, diễn văn của lãnh đạo vân vân, đều không dành nhiều không gian sáng tạo cho người dịch. Ấy thế nhưng... Kinh Thánh là một loại văn bản, về lí là không cho người dịch sự tự do, thế mà cùng một bản nguồn vẫn có rất nhiều bản dịch - tính trên một ngôn ngữ đích. Vì thế, người dịch lúc nào cũng sẽ có sự sáng tạo thôi, kể cả trong những không gian rất hẹp. Với văn bản văn học nghệ thuật, người dịch có cơ hội trở thành người đồng sáng tạo. Ví dụ một bài thơ Đường trong chương trình phổ thông, trên trang web Thi viện, dưới bài thơ này có 56 bài trả lời, bày ra gần 50 bản dịch khác nhau. Dưới đây trích một số bản dịch theo các lối thơ truyền thống và lối thơ mới:  Bản nguồn:  黄鹤楼送孟浩然之广陵 Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng 故人西辞黄鹤楼 Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu, 烟花三月下扬州 Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu. 孤帆远影碧空尽 Cô phàm viễn ảnh bích kh...

Tín trong dịch thuật

Học lí luận dịch tiếng Trung Quốc, bao giờ cũng được nhắc đến "tam nan nguyên tắc" 三难原则 (ba thứ khó trong việc dịch) của Nghiêm Phục 严复, đó là: tín, đạt và nhã. "Tín", hiểu thế nào? Khăng khăng y cứ vào câu chữ của bản nguồn, có chữ nào dịch chữ ấy, có phải là "tín" không?  Đó không phải tinh thần mà Nghiêm Phục hướng tới. Nghiêm Phục cho rằng không nên câu nệ vào câu chữ của bản nguồn, cái cần đảm bảo là diễn đạt ở bản đích so với bản nguồn phải không mâu thuẫn, không thiên lệch, không thiếu sót, cũng không được tuỳ ý thêm thắt. Tôi diễn giải thêm thế này, "tín" nghĩa là trung thành với bản nguồn, nhưng không được "ngu trung" 愚忠. Phải nhìn bản nguồn, nếu là một bản nguồn chỉn chu thì phải dành cho nó sự tôn trọng. Nhưng nếu là một bản nguồn dở tệ, câu cú lủng củng, ý tứ không được sắp xếp ngăn nắp, mà người dịch hồ đồ đi theo, thì vừa làm khó bản thân mà kết quả vẫn dở. Làm thế nào để biết bản nguồn đã chỉn chu hay chưa? Điều này thực ...

Lạc và đậu phộng (đậu phụng)

Lạc và đậu phộng (đậu phụng) Lạc, là một trong số các tên gọi của lạc hoa sinh 落花生. Còn tên gọi đậu phộng (hay đậu phụng), theo ông Trụ, là nói củ lạc giống mắt con phụng. Tra thử "phụng nhỡn đậu" 鳳眼豆 thì ra một giống khác, không phải củ lạc. Tra thử "lạc hoa sinh" thì thấy liệt kê hàng loạt tên, nhưng không có tên nào xuất hiện chữ phụng 鳳 cả (xem dưới). Tồn nghi. Nhưng giả thiết này nghe hợp lí. Tên gọi của lạc hoa sinh (theo wiki): 花生,又称落花生(植物名实图考)、落生、落、地豆(滇海虞衡志、部分客家地区)、豆仁、落地松、长生果(赣州志)、长果、果子、地豆、番豆(南城县志)。客家话以及粤西地区称为番豆。潮汕地区称为地豆,潮汕话把花生米称为豆仁。福建及台湾的闽南话称为涂豆、土豆[1][2],中国大陆其他地区也有“土豆”来表示花生,但是多数情况指的是马铃薯,土豆种仁称土豆仁,简称土仁。中国早年称其长生果。 花生也在各地得到了很多个俗名,除了最普通的“落花生”,还有“土露子”“万寿果”“长生果”“人参豆”“地果”“滴露生”“无花果”“滴花生”“地豆”“落地松”“花松”“豆魁”“落花参”“番豆”“延寿果”“及第果”“地蚕”“白果”“相思果”.

Biên tập bản nguồn: một ví dụ khác

1-Bản nguồn: Đảm bảo tiến các độ dự án hạ tầng trong thời gian cách ly toàn xã hội Mặc dù bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19, nhất là trong thời điểm thực hiện cách ly toàn xã hội theo chỉ đạo của Chính phủ, hiện nay các chủ đầu tư và nhà thầu các dự án hạ tầng trọng điểm trên địa bàn tỉnh đang tích cực thực hiện giải pháp vừa phòng chống dịch, vừa đảm bảo tiến độ, hoàn thành công trình theo đúng kế hoạch đã đề ra. Dự án đường nối cảng hàng không quốc tế Vân Đồn đến Khu phức hợp nghỉ dưỡng giải trí cao cấp khu kinh tế Vân Đồn có chiều dài 15 Km, tổng mức đầu tư trên 1.400 tỷ đồng. Với mục tiêu thực hiện nghiêm chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp cấp bách phòng chống dịch Covid 19 nhưng vẫn đảm bảo hoàn thành công trình trước ngày 30/4/2020, các đơn vị nhà thầu đã chia nhiều mũi thi công và làm 2 ca liên tục thay vì tập trung công nhân thi công 1 ca như kế hoạch. Tại các dự án đang triển khai trên địa bàn tỉnh, để đảm bảo thực hiện nghiêm việc cách ly toàn xã hội, hạn c...

Tôi học dịch

Hồi đại học, tôi được học với nhiều thầy giỏi về dịch, có giáo viên lâu năm, có cả phóng viên kì cựu của Thông tấn xã, cả với giáo viên là phóng viên người Trung Quốc đang thường trú tại Hà Nội. Có người học trên lớp, có người ở lớp học thêm. Mỗi người có một phong cách dạy riêng, ít nhiều để lại cho tôi những ấn tượng sâu sắc. Thầy Đ dạy tôi môn dịch viết, cực kì nhấn mạnh về cấu trúc câu và các cấu trúc diễn đạt. Việc đầu tiên sau khi nhận bài tập dịch là thầy yêu cầu chúng tôi phân tích cấu trúc câu, thành phần nòng cốt, thành phần phụ, rồi sau đó theo đúng trật tự trong tiếng Trung mà dịch ra, định ngữ thì đưa lên trước, trạng ngữ chỉ mục đích thì đưa lên trước, cứ thế là dịch. Cầm lấy văn bản là bắt đầu đánh dấu thành phần câu, đánh dấu mũi tên để biết đoạn nào phải đưa lên trước. Và tất nhiên, thuộc cả những cấu trúc diễn đạt nữa, ví dụ "Để xxx" thì là 为了 xxx, tổ chức hội nghị về thì là 就xxx 召开会议, hai bên đã bàn về vấn đề = 双方就 xxx 问题进行讨论, đạt được đồng thuận về = 就 xxx...

Biên tập bản nguồn

Ở thời đại AI này, kĩ năng quan trọng của người dịch là kĩ năng biên tập: 1-biên tập bản nguồn, 2-biên tập bản đích. Các công đoạn chuyển mã ngôn ngữ, có thể phần nào dựa vào các phần mềm dịch thuật, ví dụ ggl.translate. Bài này tôi tập trung nói đến kĩ năng biên tập bản nguồn.  Ví dụ một bản nguồn tiếng Việt:  [A] XXX cơ bản kiểm soát dịch bệnh  Đến thời điểm này, bằng sự quyết liệt, chủ động, tích cực, XXX đã ngăn chặn được đà lây lan nhanh của dịch Covid-19, kiềm chế và cơ bản kiểm soát được đợt bùng phát thứ 3 của dịch bệnh trên địa bàn. Nhân dân XXX đã có thể yên tâm vui xuân, đón Tết.  Trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch, tỉnh XXX đã nhanh chóng thay đổi và xác định chiến lược mới trong ứng phó với dịch: truy vết thần tốc, khoanh vùng kịp thời, xét nghiệm nhanh chóng, điều trị hiệu quả, nâng cao năng lực xét nghiệm.  Tỉnh XXX còn nhanh chóng thiết lập và vận hành Bệnh viện số 3, cùng với 2 bệnh viện số 1 – số 2 nhằm thu dung điều trị bệnh nhân Covi...

Lượm lặt vấn đề chính tả

 Đặt vấn đề Trong tiếng miền Bắc, do một số phụ âm đầu lẫn với nhau mà đôi khi chính tả không khớp với từ nguyên của nó. Quy phạm dạng chính tả có hai thứ ràng buộc:  Một là "ước định tục thành", bởi những nhà văn có tên tuổi đã viết như thế, những từ điển cũ đã viết như thế, dân cũng đã quen dùng như thế, nên lấy làm cách viết quy phạm. Đằng sau quy tắc "ước định tục thành" này là vấn đề nói thế nào viết thế ấy. Thời kì đầu khi quy phạm chưa định, người ta nói trong miệng thế nào thì viết ra tay thế ấy, nên có nhiều thứ mỗi người viết một lối. Sau này nhờ những nhà làm từ điển mà cố định dần. Những trường hợp chính tả kể dưới đây, đều được quy phạm theo lối này.  Hai là bởi từ nguyên. Muốn quy phạm chính tả theo từ nguyên thì vấn đề từ nguyên của chữ phải được khảo sát kĩ lưỡng, đáng tin cậy. Cuối thập niên 1960, ông Lê Ngọc Trụ biên một cuốn Việt ngữ chánh tả tự vị, nhằm mục đích khảo từ nguyên của từ tiếng Việt. Công trình của ông tuy đóng góp lớn, song do thao t...

Đậy điệm, giấu giếm, dém

đậy điệm: đậy kín lại giấu giếm: giấu kín lại dém: làm cho kín các mép (dém màn) Cả điệm, giếm và dém về nghĩa đều liên quan đến việc che đậy cái gì đó cho kín. Vậy thì, có khả năng "điệm", "giếm", "dém" đồng nguyên. Mà nếu điều đó đúng, thì: 1- "giếm" nên viết là "diếm" - giấu diếm. 2- Sở dĩ *diếm ghi thành giếm, vì bị cho rằng "giấu giếm" là từ láy âm đầu (song thanh), nên "lây" âm đầu của "giấu". 3- Từ điển giải thích dém = tém, mà tém thì giải thích là "thu gọn lại". Theo tôi, chúng có gốc khác nhau. Tém, về nghĩa thì liên hệ với túm/ tóm. Sở dĩ "dém màn" = "tém màn" là do nghĩa của dém (*diếm, điệm, làm cho kín) đã mờ tịt, thành yếu tố mất nghĩa trong từ ghép, nên lẫn với tém (túm/tóm lại cho gọn).

Bố cục luật thi và các lỗi khi làm thơ

Trích  Việt Hán văn khảo [M]=Phan Kế Bính=1938 Thế nào thì các câu thứ nhất, thứ nhì, thứ tư, thứ sáu, thứ tám phải theo vần với nhau, mà muốn dùng bốn câu thì phải 3 vần. Còn thơ ngũ ngôn muốn làm 16 câu thì phải thêm 8 câu nữa, cũng theo điệu ấy kéo đi mà thôi, có khi hai câu đầu đối nhau ngay thì câu đầu không phải vần nữa. Sai vần thì gọi là lạc vận hay xuất vận, không được.  Câu tiếp theo đáng bằng bằng mà lại đặt trắc trắc, đáng trắc trắc mà đặt bằng bằng gọi là thất niêm , là là điệu không dính nhau cũng không được. Trong câu trừ ra chữ thứ nhất và chữ thứ ba không kể bằng trắc gọi là nhất tam bất luận, còn sai bằng trắc chữ nào gọi là thất luật , nghĩa là sai luật, cũng không được.  Song chữ thứ nhất ở thơ ngũ ngôn và chữ thứ ba ở thơ thất ngôn đáng trắc trắc mà dùng bằng trắc thì được, chớ đáng bằng bằng mà dùng trắc bằng thì gọi là khổ độc , nghĩa là khó đọc, cũng không được.  Thơ ngũ ngôn chữ thứ hai và chữ thứ năm, thơ thất ngôn chữ thứ tư và chữ thứ bả...

牛 ngưu là con trâu hay con bò? (Phần 2)

Bài trước viết có phần vội vàng. Nhưng thôi không sửa lại, mà viết bù một bài khác, cơ bản tôi vẫn nghĩ có sự ưu tiên văn hoá cho "trâu" khi nhắc đến 牛 ngưu, nhưng sự ưu tiên này hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện phân bố địa lí. 1- Chúng ta không đang thảo luận về nghĩa của từ 牛 ngưu là gì, nó rõ ràng là phạm trù lớn bao gồm cả "trâu" và "bò". Người bản ngữ thấy không cần thiết phải phân biệt rạch ròi hai con vật này. Giống như: "Ông thường đưa bà anh đi dạo quanh Trên con ngựa sắt Thống Nhất màu xanh" (Ông bà anh, Lê Thiện Hiếu) Người Việt sẽ không truy hỏi cặn kẽ xem chiếc xe đạp màu xanh rốt cục là màu lục, màu lam hay màu thanh thiên. Nhưng nếu phải dịch câu trên ra tiếng nước ngoài, thì người dịch sẽ phải chọn dịch thành "blue" hoặc "green" (nếu không có một khái niệm "xanh" mơ màng tương đương), ở đây người dịch phải tham gia vào "đồng sáng tạo" với tác giả, chỉ bởi vì tiếng nước ngoài yêu cầu thế.  V...

牛 "ngưu" là con trâu hay con bò?

Hình ảnh
Có người hỏi, trong "Tam thiên tự", người ta lấy "trâu" để giải nghĩa cho "ngưu" (câu " ngưu trâu, mã ngựa, cự cựa, nha răng "), nhưng tra thử chữ 牛 ngưu lại ra hình ảnh con bò, vậy các cụ hiểu sai chăng? Đây là một câu hỏi thú vị, vì nó liên quan đến diễn biến văn hoá của một chữ.  Đầu tiên, người đặt câu hỏi quan sát không sai, rằng chữ 牛 gắn với hình ảnh "con bò". Kĩ hơn một chút, thì "牛" là phạm trù lớn, gồm cả "bò" (黄牛) và "trâu" (水牛), nhưng nói "牛" không thôi thì mặc định là "bò": 牛肉 là "thịt bò", 牛肉干 là "khô bò". Muốn diễn đạt "trâu" thì phải nói đủ là 水牛 thuỷ ngưu.  Nhưng đó là nhận thức của người thời nay. Vậy ngày xưa, nói 牛 ngưu không thôi, thì người ta nghĩ là "trâu" hay là "bò"? Trong 12 con giáp, "sửu" là "trâu" hay là "bò"? Để tìm hiểu câu hỏi này, tôi tìm kiếm cụm từ "古人画牛" (cổ nhân ...

Tên Mõ từ đâu ra? Nguyễn Dư (1999)

Trích bài viết của Nguyễn Dư (1999) (Nguồn: http://e-cadao.com/giaithich/thangbom.htm) Cho tới đầu thế kỷ 20, thằng Mõ còn mang tên là mộc đạc, rồi đạc phu. Mộc đạc nguyên nghĩa là cái chuông bằng đồng, có quả lắc bằng gỗ. Ngày xưa dùng "mộc đạc" để đánh hiệu vào học. Do đó người ta gọi thầy học là mộc đạc (Đào Duy Anh), hoặc đạc tư (Thiều Chửu), thầy giảng đạo gọi là đạc đức (Huỳnh Tịnh Của). Ta có thể suy ra rằng ngày xưa mõ làng còn dùng chuông, trước khi dùng mõ. Đầu thế kỷ 20, trong sách vở chưa có tên thằng Mõ. Ngược lại chữ mõ (chuông mõ) đã có mặt và được định nghĩa là đồ dùng làm hiệu lệnh, bằng bộng cây hoặc bộng tre. Chuông mõ là tiếng gọi chung đồ dùng của thầy chùa (Huỳnh Tịnh Của). Cái mõ xuất hiện trước thằng Mõ. Nhưng có thể nào cho rằng gọi là thằng Mõ vì nó gõ mõ không ? Chắc chắn là không vì chẳng có ai dám gọi nhà sư là thằng mõ. Muốn tìm nguồn gốc chữ Mõ chúng ta hãy tìm hiểu chính thằng mõ. Phần đông mõ làng là những người tha phương cầu thực, từ chỗ khá...

Space (punctuation): câu chuyện về văn tự và văn hoá

Hình ảnh
1. Khi viết chữ Quốc ngữ, giữa các chữ có một khoảng trống nhỏ, tiếng Việt gọi là “cách” 隔 ( < khoảng cách), tiếng Anh là “space” (khoảng không). Chữ Quốc ngữ kế thừa quy tắc chính tả này từ văn tự Latin, nhưng có một điểm hơi khác, là nó giãn cách các “chữ”, chứ không giãn cách các “từ”. 2. Nhưng không phải hệ chữ viết nào cũng có giãn cách giữa các chữ/ từ như thế. Chữ Hán không có khoảng cách (space) giữa các chữ, mỗi chữ chiếm một ô vuông, các ô vuông đặt liền nhau liên tiếp. Khi mới học chữ Hán, không ai nói với tôi về điều này, lúc đó chúng tôi đều viết bằng tay, mà cũng không tự nhận ra điều này khi tập viết trên những tờ giấy kẻ ô, với các ô liền sát. Lần đầu tiên tôi nhận thức được giữa các chữ Hán không có khoảng cách là khi học gõ chữ Hán bằng phần mềm, khoảng Đại học năm thứ hai hay thứ ba gì đó. Phần mềm đầu tiên chúng tôi biết đến là TwinBridge (Song Kiều), phiên bản 2.0. Wow, gõ thử “twinbridge” lên google và... nó vẫn tồn tại, đã lên phiên bản 6.5: Có một kỉ niệm nhỏ...