Bài đăng

Đang hiển thị bài đăng từ Tháng 1, 2021

Chào trong chào hỏi

Nghĩa chữ "chào" trong "xin chào" khó có liên quan đến "ciao" của Ý. Cách nói "chào" (chào anh, chào chị, chào em) khi gặp mặt không có lịch sử lâu đời lắm, vì cho đến đầu thế kỉ 20 khi gặp nhau người ta vẫn thường nói " lạy cụ/ông/bà ", hoặc hỏi han thân mật như " cụ đi chơi đấy ạ " hay " cụ đã cơm nước gì chưa " để mở đầu câu chuyện. Thói quen dùng câu hỏi thay câu chào đến bây giờ vẫn giữ trong xã hội đương đại. Dân gian có câu " lời chào cao hơn mâm cỗ " thì chữ "chào" này nghĩa là "mời". Nghĩa "mời" này có trong các từ như "đón chào" (= đón mời), "chào khách" (mời gọi khách vào mua hàng, nghĩa này có thêm biến thể là "chèo khách" rồi thành "chèo kéo khách"). Chữ "chào" (/chèo) = mời này gốc từ chữ 招 "chiêu" trong "chiêu dụ" (mời gọi) hay "chiêu đãi" (mời mọc). Từ khi nào chữ "chào" ng...

Sơ yếu lí lịch và CV

Thực tế thì CV và sơ yếu lí lịch không giống nhau, ở cả hình thức, nội dung và mục đích sử dụng.   Với CV, bạn trả lời câu hỏi: Bạn là ai? Với SYLL, ngoài câu hỏi: Đồng chí là ai? còn thêm câu hỏi: Đồng chí là con đồng chí nào? CV dịch qua tiếng TQ là 简历. SYLL dịch qua tiếng TQ phải là 个人档案摘要, qua tiếng Anh là "Individual Records Brief", nhưng hầu hết sẽ bị dịch thành 简历.

Bài viết của Phạm Ngọc Hiệp về hai chữ "đểu cáng"

 Ý nghĩa từ ngữ. Tôi lật cuốn Việt Nam Tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức để tìm nghĩa của một chữ, thì lại "té" ra một chữ khác khá hay. Đó là từ "đểu", và "đểu cáng".  "Đểu" thì chắc ai cũng biết nghĩa là gì, người ta hay nói "đồ đểu" để chỉ kẻ lừa đảo, gian tham, xỏ xiên, ngoa ngoắt... Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ do Hoàng Phê chủ biên giải thích, đểu t. (thgt). Xỏ xiên, lừa đảo đến mức bất kể đạo đức (thường dùng làm tiếng mắng). Người ta cũng hay nói "đồ đểu cáng", để chỉ một kẻ còn tệ hơn là "đểu". Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên ghi nhận, đểu cáng t. (thgt). Rất đểu. Một từ khác cũng có ý nghĩa tương đương "đểu cáng" là "đểu giả". Xem thế thì "đểu cáng", "đểu giả" còn tệ hơn "đểu" một bậc. Trong cụm từ "đểu cáng", bên trên ta đã thấy quyển từ điển tiếng Việt thông dụng bây giờ giải thích chữ "đểu", là Xỏ xiên, lừa đảo đến mức...

Đểu cáng và đểu giả

1. Đểu 1 trong "đểu cáng" nghĩa là phu gánh thuê, là âm Nôm hoá của chữ Hán 挑, nghĩa là "gánh". Tiếng Hán có từ "挑夫" nghĩa là "phu gánh đồ".  挑,có các âm đọc sau: 吐彫切,thổ điêu thiết, âm thiêu; 土刀, thổ đao thiết, âm thao; 徒了, đồ liễu thiết, âm điệu. Trong đó 挑 "đồ liễu thiết" có nghĩa là gánh. Chính là từ "điệu" mà sau thành "đểu" nghĩa là gánh trong đều cáng.  Chữ 挑 có âm Hán Việt là "khiêu", là âm lệ ngoại, hiện chưa giải thích được nguồn gốc âm đầu kh- , nhưng chữ "khiêu" này hiện diện trong các từ như "khiêu chiến", "khiêu khích", rồi thành "khêu" trong "khêu gợi", thành "khều" nghĩa là dùng vật móc lấy đồ. Những nghĩa này đều gắn với chữ 挑 bình thanh.  Cáng, là âm Nôm hoá của chữ Hán 杠, 古雙切 cổ song thiết, âm giang, nghĩa là "cái đòn sóc".  2. Đểu 2 trong "đểu giả" nghĩa là điêu trá, là âm Nôm hoá của chữ Hán 刁 âm điêu.  Gi...

"Huấn dân chính âm" và vấn đề sáng tạo chữ viết dân tộc

Hình ảnh
1. Năm 1443, vua Se-jong 世宗 của vương triều Triều Tiên tập hợp một số học giả đặt ra con chữ phù hợp để ghi lại tiếng Triều Tiên, sự thành bèn xuất bản một cuốn sách đặt tên là 《訓民正音》“Huấn dân chính âm”, nghĩa là âm chính xác để dạy cho dân. Sau này, tên quyển sách “Huấn dân chính âm” cũng được dùng làm tên gọi cho hệ thống chữ cái Hàn Quốc. Để cho giản tiện, người ta gọi là “Han-geul” (chữ Hàn) hoặc ở Triều Tiên thì gọi là Choson-geul (chữ Triều Tiên), những tên gọi này ra đời vào thế kỉ 20. Bảng chữ cái của Huấn dân chính âm (1443): Phụ âm: ㄱ ㅋ ㆁ ㄷ ㅌ ㄴ ㅂ ㅍ ㅁ ㅈ ㅊ ㅅ ㆆ ㅎ ㅇ ㄹ ㅿ Nguyên âm: ㆍ ㅡ ㅣ ㅗ ㅏ ㅜ ㅓ ㅛ ㅑ ㅠ ㅕ 2. Trong cuốn Huấn dân chính âm, nguyên lí tạo chữ không được giải thích, nhưng được trình bày kĩ càng trong một cuốn sách khác có tựa đề 《訓民正音解例本製字解》 (Huấn dân chính âm giải lệ bản: chế tự giải) nghĩa là “Bản giải thích về Huấn dân chính âm: giải thích nguyên tắc chế tự”, xuất bản năm 1446 (tìm thấy trong thập niên 1940). Trong sách có đoạn: 天地之道,一陰陽五行而已。坤復之間爲太極,而動靜之後爲陰陽。凡有生類在天地...

TS Nguyễn Hải Hoành: Giản thể chữ Hán sau Ngũ Tứ

(Lược bỏ đoạn đầu, nội dung về những nhược điểm của chữ Hán. Có thể xem đầy đủ trong link bài gốc: http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/nghien-cuu/ngon-ngu-hoc/7575-c%E1%BA%A3i-c%C3%A1ch-ch%E1%BB%AF-vi%E1%BA%BFt-%E1%BB%9F-trung-qu%E1%BB%91c.html )   TÌNH HÌNH CẢI CÁCH HÁN NGỮ Người TQ sớm nhận ra phần nào mặt hạn chế của chữ Hán, vì thế ngay từ thời xưa, khi viết các chữ nhiều nét thì họ tự ý bỏ bớt nét chữ. Từ cuối thế kỷ XIX do gắn liền việc cải cách Hán ngữ với vận mệnh dân tộc, họ mới bắt đầu cải cách toàn diện và nhanh hơn. Nhìn chung họ đã tiến hành cải cách Hán ngữ theo mấy hướng : - Đơn giản hóa chữ viết, trước hết là chữ nhiều nét, nhằm để chữ Hán trở nên dễ học, dễ phổ cập. - Ghi âm chữ Hán, nhằm thống nhất trong cả nước cách đọc chữ Hán. - Trên cơ sở ghi âm được chữ Hán, nghiên cứu khả năng bỏ hẳn chữ vuông, chuyển sang chữ biểu âm dưới dạng văn tự dùng chữ cái (như chữ Latin hoặc Slav), nhằm triệt để sửa các nhược điểm vốn có của chữ Hán. Thời phong trào Duy Tân, Khang Hữu ...

Review bài viết giản hoá chữ Hán sau Ngũ tứ

Tác giả: TS Nguyễn Hải Hoành Nguyên văn tại đây:    http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/nghien-cuu/ngon-ngu-hoc/7575-c%E1%BA%A3i-c%C3%A1ch-ch%E1%BB%AF-vi%E1%BA%BFt-%E1%BB%9F-trung-qu%E1%BB%91c.html Review: 1. Bài viết tổng hợp nhiều nguồn tư liệu, dựng lại quá trình giản hoá chữ Hán của Trung Quốc giai đoạn sau Ngũ tứ, mà kết quả là cho ra đời chữ Hán giản thể. Các giáo trình dạy về chữ Hán thường không đề cập kĩ đến lịch sử ra đời của chữ Hán giản thể, nên người học thường chỉ nhận thức mơ hồ là việc giản thể chữ Hán được Mao Trạch Đông thực hiện ở Trung Quốc đại lục. Bài viết sẽ cho thấy việc giản hoá chữ Hán được đề xuất bởi những trí thức tư sản, mà Tiền Huyền Đồng là nhân vật tiêu biểu. Sau này những người không ưa chính thể cộng sản mới lôi chữ giản thể ra mắng, hàm ý là cộng sản làm hỏng mất sự đẹp đẽ của chữ Hán. Thực là nhầm to, phất ngọn cờ giản thể chữ Hán không phải người Cộng sản, nhưng họ là người hoàn thành công cuộc đó. 2. Sau Phong trào Ngũ tứ (1919), bên cạnh ...

“Calligraphy” và “Thư pháp chữ Quốc ngữ”

 “Calligraphy” và “Thư pháp chữ Quốc ngữ” Tôi đoan chắc rằng, bất cứ ai có hiểu biết chút ít về thuật ngữ “calligraphy”, đều biết rằng “nghệ thuật viết chữ” không phải là đặc sản riêng của Trung Quốc và chữ Hán. Theo http://en.wikipedia.org/wiki/Calligraphy, có tới 9 hệ calligraphy như sau: 1. Western calligraphy 2. Slavonic lettering 3. Eastern Asian calligraphy 4. Indian calligraphy 5. Nepalese calligraphy 6. Tibetan calligraphy 7. Persian calligraphy 8. Islamic calligraphy 9. Maya calligraphy Dĩ nhiên, có thể hoài nghi về tính chuẩn mực, khoa học của những nội dung trên wikipedia, song chí ít, với sự liệt kê này, người đọc cũng dễ hình dung ra sự phong phú đa dạng của “nghệ thuật viết chữ” trên thế giới. “Calligraphy”, ở Đông Á, được gọi là Thư pháp (Trung Quốc), Thư nghệ (Hàn) hay Thư đạo (Nhật). Từ cái nhìn rộng rãi về “calligraphy”, tôi muốn nêu vài suy nghĩ cá nhân về “Thư pháp chữ Quốc ngữ”. 1. Tuyến tính vs. phi tuyến tính Trước hết “calligraphy” (hay “thư pháp”) là thứ ng...

Vần ưu-

Hình ảnh
Vần “ưu” trong tiếng Việt, như tôi biết, đều là từ gốc Hán. Xin liệt kê dưới đây: 0: ưu điểm, ưu sầu B: bưu điện, bưu chính, bửu bối C: cưu mang, con cừu, cừu thù, Cửu Long, trường cửu, linh cữu, cấp cứu, châm cứu, nghiên cứu, thủ cựu H: hưu trí, hữu hiệu, tả hữu, hữu nghị KH: khứu giác L: lưu lượng, lưu ban, quả lựu, M: mưu mô NG: ngưu tầm ngưu, mã tầm mã S: sưu tầm, sưu thuế, năm Sửu T: tửu lượng, tựu trường TR: trừu tượng V: vưu vật Có từ thuần Việt nào mang vần “ưu” không? Trước mắt tôi không tìm ra. Chữ “mứu” chưa rõ. Chữ này xuất hiện trong cụm “mắc mứu”, có một biến thể âm đọc khác là “mớ” - mắc mớ. Vậy “mứu” là do mớ biến âm ra (?). Một khả năng khác, “mứu” là do chữ “nữu” 紐 là cái nút dây mà ra, mắc nữu > mắc mứu (n > m do đồng hóa thuận). Tóm lại, vần ưu sản sinh trong tiếng Việt là do vay mượn từ Hán Việt.  Đã đăng trên fb ngày 5/5/2020

Hỏi đáp về chữ Hán

Hình ảnh
Nhân dịp sinh viên QH2020 (K54) nhập học, tôi đăng trên trang facebook của khóa mục Q&A - hỏi đáp về chữ Hán, tổng kết một vài câu hỏi của những người mới học tiếng Hán, thậm chí của một vài người chẳng phải mới học. Một vài trong số đó là những ngộ nhận ngây thơ. Nay gom những câu hỏi đã đăng về đây. Mỗi đầu năm nhập học đều có ích. Trật tự các câu hỏi là ngẫu nhiên, theo vấn đề gì chợt bật ra trong đầu người viết. #1 Q: Chữ Hán là chữ tượng hình phải không ạ? A: Nếu có người nói: "Người là con vượn", em thấy câu đó đúng hay sai? Hãy cho là Đác-uyn nói đúng đi, con người tiến hóa từ vượn, nhưng nếu ở thế kỉ 21 mà nói "người là con vượn" thì không đúng chút nào. Chữ Hán cũng thế. Ở thuở sơ sinh của "chữ Hán", tính tượng hình của nó rất mạnh, nhưng chữ Hán đã tiến hóa rồi, bây giờ không phải là chữ tượng hình đâu. Trên 70% chữ Hán em sẽ học tới đây là chữ ý-âm (tức là trong chữ có phần biểu ý và phần biểu âm). Lưu ý nhé, chữ "ý-âm" chứ không p...

Chữ “thiệt” trong "thất thiệt" và "thiệt hại"

"Thất thiệt" và "Thiệt hại". Hai chữ "thiệt" này đồng âm nhưng nguồn gốc khác nhau. Để phân biệt, gọi là "thiệt 1" và "thiệt 2". 1. "Thất thiệt" = (lời nói, thông tin) không đúng sự thật. Gốc của "thiệt 1" là "thật", là hai chữ Hán này: 失實. 實 âm "thật", vì kị huý mà mượn âm "thực" của chữ khác.[A] [B] "Thực" là chữ này: 寔. Kị huý thì khi đọc chữ Hán phải đọc trại đi, nhưng lời nói trong khẩu ngữ thì không cải được, nên vẫn là “sự thật, nói thật, thật thà...”. Ngoài ra thì: nói thật = nói thiệt, thật thà = thiệt thà... [A] “Thật” là tên khác của bà Hồ Thị Hoa, mẹ vua Thiệu Trị, tên này do vua Gia Long ban cho. Nguồn: Húy kỵ và quốc húy triều Nguyễn của Dương Phước Thu. (Phan Anh Dũng) [B] Nói do "kị huý" mà gá âm "thực" sang là hơi khiên cưỡng. Vì các trường hợp huý khác như hoa > huê, nhậm > nhiệm, cảnh > kiểng, hồng > hường (và theo lẽ ấy, thật...

Ngôn ngữ “đạo” và ngôn ngữ “đời”

 Dẫn nhập. Dịch ngược khó, nhưng dễ được tha thứ. Dịch xuôi cực khó, bởi tiêu chuẩn rất cao. Để có một bản dịch xuôi tốt, thì việc hiểu tiếng Việt, vận dụng tốt tiếng Việt là điều phải trau dồi liên tục. Tiếng Việt, rộng lớn hơn cái “tiếng Việt của bạn” rất nhiều. Người lớn tuổi nói tiếng Việt khác người ít tuổi. Khi một đứa trẻ lên ba tập nói, nó lặp lại y xì câu nói của người lớn, cả nhà đều phì cười, vì nói ngộ quá, như ông cụ non. Sinh ra hiệu quả “hài hước” ấy là do, đó không phải là ngôn từ của một đứa trẻ lên ba, gây thành sự “đặt nhầm miệng”. Vậy thì cũng tương tự thôi, sẽ có sự vênh, sẽ gây buồn cười nếu để người nông dân nói như cán bộ, để giang hồ nói như thầy giáo, để thầy tu nói như người đời, để người miền Nam nói như người miền Bắc... Ghép chữ thành câu, không đơn thuần chỉ là hợp về nghĩa, mà cần tính toán sao cho hợp về phong cách, thái độ, cá tính, đặc trưng nghề, đặc điểm vùng miền vân vân. Mà muốn biết hết những cái “hợp” ấy thì phải để ý hơn và trau dồi thường ...

Một cách khác để phân loại thanh điệu tiếng Việt

Hình ảnh
Tiếng Việt được hiểu là tiếng Việt toàn dân, được phản ánh đầy đủ nhất trong chữ Quốc ngữ, không phải là tiếng Việt thực tiễn ở một thổ ngữ nào đó. 1. Tiếng Việt có bao nhiêu thanh điệu? Câu trả lời tuỳ thuộc vào cách phân tích ngôn ngữ. Là 8 thanh điệu, nêu tuân theo cách phân tích của truyền thống Trung Hoa. Là 6 thanh điệu, nếu theo cách phân tích của các giáo sĩ phương Tây. Hệ thống 6 thanh điệu vì gắn với chính tả nên định hình cho đến nay. (Giả sử chúng ta vẫn đang viết chữ Nôm thì hoàn toàn có thể xem xét các lối phân tích khác, và số lượng thanh điệu theo đó cũng có thể khác đi. Cụ thể có thể tham khảo cuốn Ngữ âm tiếng Việt của gs. Đoàn Thiện Thuật.) 2. Chấp nhận tiếng Việt có 6 thanh điệu, thì sáu thanh điệu này lần lượt đối lập với nhau theo những tiêu chí nào, cũng lại tuỳ thuộc vào phương pháp phân tích và mục đích của nhà nghiên cứu. Bộ tiêu chí và phép phân chia được học giới chấp nhận rộng rãi hiện nay được giới thiệu trong cuốn Ngữ âm tiếng Việt của gs. Đoàn. Tôi vẽ ...

Chồng lấp âm hệ

Hình ảnh
Trích slide bài giảng về âm đọc chữ Hán ở Việt Nam. Nhận thức của tôi về sự hình thành các âm đọc chữ Hán ở Việt Nam (có lẽ) đã rõ ràng thêm một chút nữa. Xem hình dưới đây. Tôi vẫn chưa thuyết phục được bản thân về việc nối giai đoạn từ Nam Bắc triều đến Hán. Chủ yếu là tôi vẫn chưa tìm ra được bằng chứng về sự vay mượn có hệ thống ở giai đoạn này, cho dù sự tiếp xúc sâu rộng là có bằng chứng lịch sử. Băng hẵng còn mỏng quá. Theo mô hình này thì có 2 quá trình dung hợp chứ không phải 1 (như lí thuyết trước của tôi). Quá trình dung hợp thứ nhất xảy ra trong nội bộ phương ngữ Hán ở Giao Châu, âm hệ đời Đường và âm hệ đời Nam Bắc Triều sẽ dung hợp với nhau. Đây là một quá trình hai chiều. Một hệ quả của nó là lối đọc cũ sẽ trở thành “bạch độc” trong khi lối đọc mới thành “văn độc”. Bạch độc bị ép ra ngoài và tan vào trong tiếng Việt, hình thành cái mà trước đây quen gọi là “cổ Hán Việt”. Khi sự dung hoà giữa hai hệ thống này về cơ bản định cục, thì chữ Nôm xuất hiện, đó là lí do tại sao ...

Nhân tình

Gẫm cười hai chữ “nhân tình” éo le. Éo le thật ý chứ. Câu chuyện nhỏ của chữ “nhân tình” mà thấy cả sự Việt hóa yếu tố vay mượn, và chuyện xếp lốt, chia lốt của nhau trong từ vựng. 1. Trong tiếng Hán, “情人” tình nhân và “人情” nhân tình là hai từ mang nghĩa khác nhau. Cả hai từ này đều được mượn sang tiếng Việt, nên ban đầu “tình nhân” và “nhân tình” không đồng nghĩa. “Nhân tình” được giải thích là tình giữa con người với nhau, tình người. Chẳng hạn: “ Trước đèn xem chuyện Tây minh, gẫm cười hai chữ nhân tình éo le ”. (Nguyễn Đình Chiểu, Lục Vân Tiên) Nhân tình, với nghĩa là “tình người” như thế, nay đã thành từ cũ, nghĩa cũ. Ở tiếng Việt hiện đại, nó chỉ còn tồn tại trong những thành ngữ như “nhân tình thế thái”, còn thường thì người ta hiểu “nhân tình” cũng nghĩa là “tình nhân”. 2. Trong tiếng Việt, trật tự từ giữ vai trò quan trọng trong ngữ pháp, việc thay đổi trật tự từ có thể khiến thay đổi về nghĩa, hoặc về sắc thái tình cảm. Quy tắc này áp dụng cho cả cấp độ từ pháp, ví dụ khôn...

Mọc sừng và 戴绿帽子

Hình ảnh
1. Trong tiếng Việt có một thành ngữ bản địa là “nuôi con tu hú” để chỉ việc nuôi con của người khác, mà đứa con đó là kết quả của sự ngoại tình. Trong ngôn ngữ phương Tây như tiếng Pháp hay tiếng Anh người ta cũng dùng loài chim có tập tính tương tự là “coucou”, để nói về sự ngoại tình (coucou > cocu (Pháp) hay cuckold (Anh) )  Cũng nói về sự ngoại tình, trong tiếng Pháp còn một lối diễn đạt khác: AVOIR/PORTER DES CORNES (nghĩa là "có sừng" hoặc "mang sừng"). Cách diễn đạt này trực tiếp mang đến từ "mọc sừng" trong tiếng Việt.  Bức tranh châm biếm của Pháp vẽ năm 1815, vẽ những thành viên quý tộc - cả nam và nữ - với những bộ sừng lớn trên đầu. Không nghi ngờ gì, “mọc sừng” (bị lừa dối) hay “cắm sừng” (lừa dối) là lối nói ẩn dụ được du nhập vào Việt Nam qua tiếp xúc với văn hóa phương Tây. Truy xa hơn nữa xem nguồn gốc của “bộ sừng” là gì, thì thấy nhiều cách giải thích, nghĩa là nguồn gốc đã mơ hồ rồi. Trong số các giải thích ấy, tôi thấy có một giả ...